MT's Blog
Monday, March 24, 2014
Sunday, September 23, 2012
Tuesday, June 19, 2012
Mời đọc thơ Kien Giang
HOA TRẮNG THÔI CÀI LÊN ÁO TÍM
Kiên Giang
Lâu quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa cháy quê hương
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che cả người thương nóc giáo đường
Mười năm trước em còn đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em còn nguyên vẹn tuổi băng trinh
Quen biết nhau qua tình lối xóm
Cổng trường đối diện ngó lầu chuông
Mỗi lần chúa nhật em xem lễ
Anh học bài ôn trước cổng trường
Thuở ấy anh hiền và nhát quá
Nép mình bên gác thánh lầu chuông
Để nghe khe khẽ lời em nguyện
Thơ thẩn chờ em trước thánh đường
Mỗi lần tan lễ, chuông ngừng đổ
Hai bóng cùng đi một lối về
E lệ em cầu kinh nho nhỏ
Thẹn thùng, anh đứng lại không đi
Sau mười năm lẽ anh thôi học
Nức nở chuông trường buổi biệt ly
Rộn rã từng hồi, chuông xóm đạo
Khi nàng áo tím bước vu quy
Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ
Chiếc áo tang liệm kín khối sầu!
Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Giữ làm chi kỹ vật ban đầu!
Em lên xe cưới về quê chồng
Dù cách đò ngang cách mấy sông
Vẫn nhớ bóng vang thời áo tím
Nên tình thơ ủ kín trong lòng
Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương
Giữ màu áo tím, cành hoa trắng
Giữ cả trường xưa, nóc giáo đường
Giặc chiếm lầu chuông xây ổ súng
Súng gầm rung đổ gạch nhà thờ
Anh đem gạch nát, xây tường lủng
Chiếm lại lầu chuông, giết kẻ thù
Nhưng rồi người bạn đồng song ấy
Đã chết hiên ngang dưới bóng cờ
Chuông đổ ban chiều, hồi vĩnh biệt
Tiễn anh ra khỏi cổng nhà thờ
Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Mà cài trên nắp áo quan tài
Điểm tô công trận bằng hoa trắng
Hoa tuổi học trò, mờ thắm tươi
Xe tang đã khuất nẻo đời
Chuông nhà thờ khóc đưa người ngàn thu
Từ đây tóc rũ khăn sô
Em cài hoa trắng lên mồ người xưa.
Hoa trắng thôi cài trên áo tím có lẽ là bài thơ nổi tiếng nhất của Kiên Giang, đã được nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ nhạc và được nhiều ca sĩ thể hiện rất thành công. Theo Kiên Giang: "Đây là tâm tình người trai ngoại đạo đối với cô gái có đạo. Mối tình học trò tinh khiết, ngây thơ, không nhuốm bụi trần. Năm 1944, tôi ở Cần Thơ học trường tư thục Nam Hưng, dốt toán nhưng giỏi luận chuyên làm bài giùm cho bạn cùng lớp, trong đó có NH - cô bạn dễ thương thường mặc áo bà ba trắng, quần đen, mang guốc mộc. Có những buổi tan học lẽo đẽo đi theo sau NH. đến tận nhà cô ở xóm nhà thờ. Cách mạng nổ ra, không có tiền đi đò về quê, NH. biết ý gửi cho, rồi đi kháng chiến, gặp người quen trong đội quân nhạc nhắn: 'Con Tám NH. vẫn chờ mày'. Năm 1955 tôi ghé ngang Cần Thơ, xin phép má của NH. tâm tình suốt đêm bên ánh đèn dầu huê kỳ. Sau đó tôi nghe tin NH. lấy chồng có con đầu lòng đặt tên là tên ghép lại của tôi và NH. vì thế chồng cô biết rất ghen tức. Chính vì lý do nầy tôi đổi bốn câu kết bài thơ này, giống như tống tiễn mối tình học trò trinh trắng. Kết trước là:
Xe tang đã khuất nẻo đời
Chuông nhà thờ khóc tiễn người ngàn thu
Từ nay tóc rũ khăn sô
Em cài hoa tím trên mồ người xưa
thành cái kết:
Lạy Chúa! Con là người ngoại đạo
Nhưng tin có chúa ở trên trời
Trong lòng con, giữa màu hoa trắng
Cứu rỗi linh hồn con Chúa ơi !
Năm 1999, hãng phim TFS Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh có làm phim "Chiếc giỏ đời người" về sự nghiệp hoạt động văn nghệ của tôi, khi trở về Cần Thơ quay lại cảnh trường cũ, mới hay tin là NH. mất năm 1998. Tôi mua bó huệ trắng, ra thăm mộ NH. ở nghĩa trang Cái Su. Đúng là
Anh kết vòng hoa màu trắng lạnh
Từng cài trên áo tím ngây thơ
Hôm nay vẫn đóa hoa màu trắng
Anh kết tình tang gởi xuống mồ"
Lâu quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa cháy quê hương
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che cả người thương nóc giáo đường
Mười năm trước em còn đi học
Áo tím điểm tô đời nữ sinh
Hoa trắng cài duyên trên áo tím
Em còn nguyên vẹn tuổi băng trinh
Quen biết nhau qua tình lối xóm
Cổng trường đối diện ngó lầu chuông
Mỗi lần chúa nhật em xem lễ
Anh học bài ôn trước cổng trường
Thuở ấy anh hiền và nhát quá
Nép mình bên gác thánh lầu chuông
Để nghe khe khẽ lời em nguyện
Thơ thẩn chờ em trước thánh đường
Mỗi lần tan lễ, chuông ngừng đổ
Hai bóng cùng đi một lối về
E lệ em cầu kinh nho nhỏ
Thẹn thùng, anh đứng lại không đi
Sau mười năm lẽ anh thôi học
Nức nở chuông trường buổi biệt ly
Rộn rã từng hồi, chuông xóm đạo
Khi nàng áo tím bước vu quy
Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ
Chiếc áo tang liệm kín khối sầu!
Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Giữ làm chi kỹ vật ban đầu!
Em lên xe cưới về quê chồng
Dù cách đò ngang cách mấy sông
Vẫn nhớ bóng vang thời áo tím
Nên tình thơ ủ kín trong lòng
Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương
Giữ màu áo tím, cành hoa trắng
Giữ cả trường xưa, nóc giáo đường
Giặc chiếm lầu chuông xây ổ súng
Súng gầm rung đổ gạch nhà thờ
Anh đem gạch nát, xây tường lủng
Chiếm lại lầu chuông, giết kẻ thù
Nhưng rồi người bạn đồng song ấy
Đã chết hiên ngang dưới bóng cờ
Chuông đổ ban chiều, hồi vĩnh biệt
Tiễn anh ra khỏi cổng nhà thờ
Hoa trắng thôi cài trên áo tím
Mà cài trên nắp áo quan tài
Điểm tô công trận bằng hoa trắng
Hoa tuổi học trò, mờ thắm tươi
Xe tang đã khuất nẻo đời
Chuông nhà thờ khóc đưa người ngàn thu
Từ đây tóc rũ khăn sô
Em cài hoa trắng lên mồ người xưa.
Hoa trắng thôi cài trên áo tím có lẽ là bài thơ nổi tiếng nhất của Kiên Giang, đã được nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ nhạc và được nhiều ca sĩ thể hiện rất thành công. Theo Kiên Giang: "Đây là tâm tình người trai ngoại đạo đối với cô gái có đạo. Mối tình học trò tinh khiết, ngây thơ, không nhuốm bụi trần. Năm 1944, tôi ở Cần Thơ học trường tư thục Nam Hưng, dốt toán nhưng giỏi luận chuyên làm bài giùm cho bạn cùng lớp, trong đó có NH - cô bạn dễ thương thường mặc áo bà ba trắng, quần đen, mang guốc mộc. Có những buổi tan học lẽo đẽo đi theo sau NH. đến tận nhà cô ở xóm nhà thờ. Cách mạng nổ ra, không có tiền đi đò về quê, NH. biết ý gửi cho, rồi đi kháng chiến, gặp người quen trong đội quân nhạc nhắn: 'Con Tám NH. vẫn chờ mày'. Năm 1955 tôi ghé ngang Cần Thơ, xin phép má của NH. tâm tình suốt đêm bên ánh đèn dầu huê kỳ. Sau đó tôi nghe tin NH. lấy chồng có con đầu lòng đặt tên là tên ghép lại của tôi và NH. vì thế chồng cô biết rất ghen tức. Chính vì lý do nầy tôi đổi bốn câu kết bài thơ này, giống như tống tiễn mối tình học trò trinh trắng. Kết trước là:
Xe tang đã khuất nẻo đời
Chuông nhà thờ khóc tiễn người ngàn thu
Từ nay tóc rũ khăn sô
Em cài hoa tím trên mồ người xưa
thành cái kết:
Lạy Chúa! Con là người ngoại đạo
Nhưng tin có chúa ở trên trời
Trong lòng con, giữa màu hoa trắng
Cứu rỗi linh hồn con Chúa ơi !
Năm 1999, hãng phim TFS Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh có làm phim "Chiếc giỏ đời người" về sự nghiệp hoạt động văn nghệ của tôi, khi trở về Cần Thơ quay lại cảnh trường cũ, mới hay tin là NH. mất năm 1998. Tôi mua bó huệ trắng, ra thăm mộ NH. ở nghĩa trang Cái Su. Đúng là
Anh kết vòng hoa màu trắng lạnh
Từng cài trên áo tím ngây thơ
Hôm nay vẫn đóa hoa màu trắng
Anh kết tình tang gởi xuống mồ"
Wednesday, May 30, 2012
Saturday, March 31, 2012
guitar
Siêu nhân Nối (4545)
Thành viên từ: 05-06-2010
27 tuổi
Hội phó
Lịch sử & Cấu tạo
Lịch Sử
Đàn guitar có một lịch sử phát triển lâu dài, có lẽ khởi đầu từ chiếc dây cung của những nguời thợ săn cổ. Tiếng bật của dây cung khi mũi tên đuợc phóng đi đã gợi ý cho người xưa sáng tạo ra đàn lia, đàn hạc và đàn luyt. Những chiếc đàn này được làm từ gỗ, mai rùa và gân động vật. Ở Hy Lạp, thế kỷ 7, người ta thấy xuất hiện phổ biến đàn lia và đàn cithara (một loại đàn lớn cồng kềnh, bắt chước cơ cấu của đàn lia với mặt gỗ to bản).
Từ guitar bắt nguồn từ chữ cithara. Cây đàn guitar đầu tiên có lẽ xuất hiện ở Ai Cập và Babylon từ 1000 năm trước Công nguyên. Trải qua nhiều biến đổi, nó được những đạo quân xâm lược mang đến châu Âu khoảng thế kỷ thứ 8 và phát triển rực rỡ vào thế kỷ 14, đặc biệt tại Tây Ban Nha.
Cùng với những nhạc cụ biểu diễn lưu động khác, cây đàn rebec (đàn violon 3 dây thời cổ) có bầu tròn đã theo chân các đạo quân xâm lược tới Tây Ban Nha, trở thành một nhạc cụ phổ biến, làm nên một làn gió mới cho cuộc sống của những người dân nơi đây. Rất nhiều nhạc sỹ đã sáng tác Văn bản liên kết dựa trên thanh âm của đàn Rebec. Thậm chí Giáo hội Tây Ban Nha đã phải ra lệnh cấm các nhà thờ được chơi loại nhạc cụ này vì tính chất phóng khoáng xô bồ của nó.
Người ta không biết từ guitarra xuất hiện ở Tây Ban Nha từ khi nào. Tuy nhiên, trong suốt thế kỷ 14, có hai loại nhạc cụ mang tên guittara là đàn guittara Latina và guittara Moisca đã chiếm ngôi vị độc tôn ở xứ sở bò tót.
Nhạc cụ bộ dây cổ nhất được tìm thấy tại khu vực Alaja Huyuk (thuộc bán đảo Anatoli) có niên đại 1400 trước Công nguyên. Người ta còn tìm thấy một bức tượng đá cổ ở Hy Lạp minh hoạ một phụ nữ đang ôm đàn. Điểm đặc biệt là tư thế của nàng trùng khớp với tư thế chơi đàn của các nghệ sỹ guitar ngày nay.
Vào thế kỷ thứ 15 vihuela là nhạc cụ đầu tiên mang đầy đủ những đặc trưng của cây đàn guitar. Những bản nhạc viết cho nhạc cụ này còn lưu giữ được cho thấy sự hoàn thiện đáng kinh ngạc.
Những cây đàn đầu tiên tại Ý mang lại những cải tiến đáng kể, làm nên đặc trưng của cây guitar ngày nay. Đàn có một lỗ thoát âm duy nhất, một cần đàn và các khoá. Dây đàn thường gồm 4 dây đôi (như đàn mandoline) và một dây đơn. Hộp đàn có hình số 8 và dài hơn so với cây đàn guitar hiện đại.
Tuy nhiên, phải đợi đến thế kỷ 19, dưới bàn tay tài hoa của nghệ nhân bậc thầy Antonio de Torres Jurado (1817-1892) cây đàn guitar mới tìm được sự hoàn hảo của mình: đơn giản và thanh thoát. Đầu tiên phải kể đến tỉ lệ cân xứng. Trong thùng đàn, de Torres đã thay cho 4 hoặc 5 thanh ngang truyền thống bằng một hệ thống 7 thanh gỗ hình dẻ quạt. Chúng được phân chia tỷ lệ một cách chuẩn xác đến mức sau này không ai có thể vượt qua và nhờ đó những cây đàn của de Torres luôn có âm thanh mượt mà, truyền cảm và sức ngân vang rất êm, rất sâu. De Torres cũng là người tìm ra độ dài chuẩn mực của dây đàn là 65 cm. Có thể nói cho đến nay, khó ai có thể vượt qua sự mẫu mực về thanh âm và hình dáng của cây đàn của de Torres.
Một trong những giai đoạn phát triển tột bậc của cây đàn sáu dây là thời vua Ludwig XIV[cần dẫn nguồn]. Người ta có thể thưởng thức tiếng đàn từ trong cung đình giàu sang tới những góc chợ nhỏ của những người bình dân. Ai ai cũng say mê guitar cho dù họ ở giai tầng nào của xã hội. Tuy nhiên, chính vì ý nghĩ kỳ quái của tầng lớp quý tộc rằng họ đang cùng thưởng thức âm nhạc với giới bình dân mà cây đàn guitar đã có một thời gian dài không hề xuất hiện ở nơi cung đình.
Dù thế, cây đàn guitar vẫn âm thầm phát triển. Với cảm hứng nghệ thuật từ cuộc sống bình dân, họa sĩ Michelangelo Merisi da Caravaggio đã sáng lập ra một trường phái nghệ thuật pha trộn giữa tĩnh vật và phồn thực mà tâm điểm của nó là tiếng đàn guitar phóng khoáng và những bước nhảy vui nhộn bên bàn tiệc của những cô nàng hầu gái và những anh chàng nông phu hồn hậu. Có thể nói đây cũng là tiền đề dần hình thành nên dòng nhạc flamenco vô cùng quyến rũ, đặc trưng Tây Ban Nha.
Những tên tuổi như Ferdinando Carulli (1770-1841), Fernando Sor (1778-1839), Mauro Giuliani (1781-1829), Matteo Carcassi (1792-1853) và đặc biệt là Francisco Tárrega (1852-1909) đẵ góp phần đưa tiếng đàn guitar trở lại đời sống âm nhạc hàn lâm. Những bản nhạc kinh điển không chỉ mô phạm mà còn tràn đầy tính biểu cảm và sự tinh tế. Với mong muốn cây guitar có một vị trí trong dàn nhạc giao hưởng, Tárrega đã không ngừng phát triển kỹ thuật chơi nhạc guitar, chuyển soạn các tác phẩm của Frédéric Chopin, Robert Schumann, Johann Sebastian Bach cho guitar.
Sau này, tiếp nối con đường của Francisco Tárrega, Andrés Segovia (1893-1987) cùng với cây lục huyền cầm lần lượt chinh phục tất cả các phòng hòa nhạc.
Bên cạnh sự phát triển của dòng nhạc hàn lâm, cây guitar cũng rẽ nhánh sang dòng âm nhạc bình dân mà đáng kể nhất phải nói đến flamenco. Kết hợp giữa tiếng guitar chau chuốt, nhịp điệu nhanh, những bước nhảy, tiếng vỗ tay hay là dậm gót của các vũ công, flamenco thực sự mang đến cho người thưởng thức sự tươi đẹp của tâm hồn Tây Ban Nha. Biết bao thế hệ nghệ sĩ flamenco đã nói tiếp nhau giữ gìn và mở rộng dòng nhạc này. Tuy nhiên, họ kế nghiệp nhau chủ yếu bằng cách học truyền khẩu nên tên tuổi và âm nhạc của họ cũng chỉ được "truyền khẩu" trong dân gian. Ramón Montoyaphòng hòa nhạc. Làm được điều này là do ông đã kết hợp một cách hài hoà sự thuần khiết của flamenco và tính kỹ thuật của guitar cổ điển.
Sang đầu thế kỷ 20, cây guitar sáu dây đã có sự phát triển mạnh mẽ trong mọi tầng lớp xã hội. Cùng với những biến chuyển mới trong đời sống nghệ thuật, kinh tế, xã hội, chính trị, tiếng đàn guitar đã rẽ sang các nhánh mới như nhạc rock, nhạc jazz và trở thành nhạc cụ phổ thông nhất trong đời sống âm nhạc hiện đại.
Cấu tạo
Bộ phận quan trọng nhất của đàn là dây đàn và thùng đàn. Thùng có tác dụng cộng hưởng và khuếch đại âm thanh. Khi ta gảy dây đàn tức là làm cho dây đàn rung động, thùng đàn sẽ cộng hưởng với tần số rung động của dây đàn, làm cho lớp không khí xung quanh mặt thùng đàn dao động với cùng tần số và tai ta nghe được âm thanh. Tùy theo tần số dao động của dây đàn mà tai ta nghe được các âm thanh trầm bổng khác nhau.
Những phần cơ bản của ghi ta điện và cổ điển
Headstock (đầu đàn)
Nut (lược đàn)
Machine heads (bộ trục lên dây đàn hoặc những chốt chỉnh dây)
Frets (những phím đàn)
Truss rod
Inlays
Neck (cần đàn)
Heel (acoustic or Spanish), neckjoint (electric)
Body (thân đàn)
Pickups (bộ phận cảm ứng âm thanh)
Electronics (điện tử)
Bridge (ngựa đàn)
Pickguard
Back (mặt sau)
Soundboard (top)
Body sides (ribs)
Sound hole, with rosette inlay (lỗ thoát âm)
Strings (những dây đàn)
Saddle (lưng ngựa đàn)
Fretboard or fingerboard (bàn phím)
28-02-2012 01:34:30 PM
nhungde...
^_^ -Thay Đổi- ^_^
Siêu nhân Nối (4545)
Thành viên từ: 05-06-2010
27 tuổi
Hội phó
Phân loại
Theo dòng phát triển của thời gian, cùng với những biến đổi tất yếu của xã hội, tư tưởng, ý thức của con người mà cây đàn guitar cũng có những cải biến đáng kể.
Xét theo dòng nhạc, ghi-ta được phân chia thành 2 dòng chính thống: guitar cổ điển và guitar nhạc nhẹ. Guitar cổ điển thường là đàn gỗ, có 6 dây, đôi khi được thiết kế thành 12 dây. Trong nhạc nhẹ, có nhiều thể loại phong phú hơn nên người ta cũng đồng thời chia guitar thành các dòng như ghi-ta flamenco, jazz hay rock.
Xét về cấu tạo, đàn ghi-ta được chia thành ghi-ta điện, ghi-ta Hawaii, ghi-ta phím lõm, ghi-ta đệm (bass), ghi-ta hai cần, ghi-ta 4 dây, 7 dây, 12 dây. Nhưng thông thường ghi-ta được chia làm 2 nhóm lớn: ghi-ta thùng (acoustic guitar) và ghi-ta điện (electric guitar).
Ghi-ta thùng (acoustic guitar)
Ghi-ta thùng đã thâm nhập vào rất nhiều thể loại âm nhạc khác nhau. Bên cạnh vai trò là những nhà solo tuyệt vời, acoustic cũng đã hòa nhập rất hài hòa với các dụng cụ âm nhạc khác.
Ghi-ta acoustic về cơ bản là nhạc cụ không dùng điện, khối lượng nhẹ, thường được làm chủ yếu từ gỗ, dễ mang theo khi di chuyển. Dây đàn được làm chủ yếu từ dây sắt hoặc dây nilon. Trái với Ghi-ta điện, cây đàn ghi-ta thùng không sử dụng một thiết bị tăng âm nào gắn vào cây đàn, trái lại nó sử dụng một miếng gỗ tăng âm gắn vào phía trước thân đàn. Vì vậy, so với các nhạc cụ khác trong một dàn nhạc giao hưởng, âm thanh của cây ghi-ta thùng thường nhỏ hơn và vi vậy khi ghi-ta được chơi chung trong các dàn nhạc, nó thường được gắn thêm các bộ phận cảm ứng từ dùng để khuếch đại âm thanh (gọi là pick-up). Các ghi-ta acoustic hiện nay sử dụng rất nhiều loại pick-up khác nhau để các nhạc công có thể dễ dàng điều chỉnh âm lượng của ghi-ta.
Đàn ghi-ta aucostic có khả năng trình diễn ở nhiều thể loại nhạc khác nhau từ nhạc cổ điển, nhạc đồng quê, nhạc jazz cho đến flamenco với tính biểu cảm tuyệt vời.
Ghi-ta acoustic thuờng có:
phím đàn hẹp hơn guitar classic
thùng đàn hơi mỏng hơn classic, phía trên thường có một miếng hình khuyết để trang trí và tránh làm xướt thùng đàn khi đánh miếng gảy
Một số cây, ở mặt bên trên của thùng đàn còn có chổ để móc dây thiết kế sẵn để móc dây đeo vào đứng đánh
Ta có thể chia ghi-ta thùng ra thành nhiều nhóm lớn: ghi-ta cổ điển và ghi-ta flamenco; ghi-ta dây thép với phần đầu phẳng (còn gọi là ghi-ta folk); ghi-ta 12 dây; ghi-ta đầu vòm. Ghi-ta thùng còn bao hàm một số loại ghi-ta không gắn các bộ phận tăng âm và dùng trong một số trường hợp như loại ghi-ta thùng để đánh đệm trong các ban nhạc, chúng có cùng tông với loại ghi-ta điện cùng dùng để đánh đệm.
Một số biến thể của ghi-ta acoustic:
Phiên bản đầu tiên của ghi-ta aucostic là cây đàn guitar cổ điển (classical guitar)
Đàn dây kim loại: được tạo vào khoảng thế kỉ 19. So với dây đàn của ghi-ta cổ điển, điểm khác biệt lớn nhất là nó được căng dây kim loại và đôi khi thùng đàn to hơn. Cùng với ghi-ta điện (electric guitar), nó đã trở thành một nhạc cụ cốt lõi trong nhạc pop.
Resonator guitar: có thân đàn thường được làm từ kim loại. Cách làm này giúp nâng cao âm thanh để chơi trong dàn nhạc giao hưởng và thính phòng. Nó ra đời ở vùng trung tâm phía Bắc Mĩ vào khoảng thập niên 1920 và thập niên 1930.
Đàn 12 dây: có số dây đàn là 12, gấp đôi một cây đàn bình thường. Cứ mỗi cặp 2 dây sẽ thể hiện một cao độ. Với cây đàn này một nghệ sĩ có thể thể hiện như 2 người đang cùng chơi. Do tính chất 2 dây/1 cao độ, tính cộng hưởng là rất cao nên có ảnh hưởng rất rõ ràng và tích cực tới người nghe.
Ghi-ta Torres: được coi là bậc tiền bối trong dòng acoustic guitar hiện đại. Nó có thân đàn to hơn một chút và rất giống cây đàn ghi-ta cổ điển.
Ngoài ra, ở Việt Nam thì quen chơi đàn thùng. Đàn thùng thì cũng tương tự như đàn cổ điển, có cái thân rỗng và có lỗ âm thanh. Dây thì thường là sắt bao đồng, dây cứng hơn loại nylon, và dây đàn được giữ trên mình đàn bằng sáu cái chốt nhựa hoặc kim loại, chứ không cột lại như đàn nylon.
Ghi-ta Ba-rốc (Baroque) và ghi-ta Phục Hưng (Renaissance)
Tiền thân của ghi-ta hiện đại. So với ghi-ta cổ điển, nó nhỏ và thanh tú hơn, và âm thanh phát ra cũng nhỏ hơn. Nó có dây đạt thành cặp như ghi-ta 12 dây, nhưng chỉ có 3-4 cặp, khác với ghi-ta 12 dây có 6 cặp ứng với đủ 12 dây. Ghi-ta Ba-rốc được dùng để đánh đệm cũng như đánh đơn, và thường được thấy trong các buổi biễu diễn âm nhạc vào thời kỳ sớm của lịch sử âm nhạc (500-1760 SCN) (Instrucción de Música sobre la Guitarra Española của Gaspar Sanz xuất bản vào năm 1674 bao gồm rất nhiều bài ghi-ta đánh đơn trong thời kỳ đó). Trong khi ghi-ta Ba-rốc có thân đàng phẳng thì ghi-ta Phục Hưng được trang trí rất cầu kỳ với những lớp gổ và ngà voi trang trí trên khắp thân và cổ đàn, và một paper-cutout inverted "bánh cưới" phía trong lổ thân đàn.
Ghi-ta cổ điển (Classical guitar)
Nhạc cụ này được chế tạo từ một bản thiết kế vào khoảng 150 năm trước đây. Nó là loại đàn acoustic guitar có 6 dây (thường làm bằng nilon), âm thanh phát ra nghe êm dịu. Nhạc cụ này có thể được dùng trong rất nhiều loại thể loại nhạc khác nhau: từ nhạc Tây Ban nha, folk, jazz cho tới nhạc độc tấu và hòa tấu và thường được chơi khi nhạc công ngồi tại một vị trí cố định.
Classical guitar thuộc bộ dây, âm vực rộng khoảng 3 quãng tám, được chế tạo từ nhiều loại gỗ khác nhau, có chiều dài xấp xỉ 1 m. Nhạc cụ này phát triển từ thời Trung cổ. Thời kỳ đầu, nó xuất hiện ở Tây Ban Nha và Ý, giai đoạn ấy nó có hình dáng nhỏ gọn hơn loại classical guitar ngày nay.
Hiện nay, các loại ghi-ta cổ điển sử dụng trong dàn nhạc giao hưởng Niibori Guitar được phân loại như sau:
Ghi-ta sopranino hay ghi-ta piccolo, với quãng tám và quãng năm cao hơn bình thường một chút.
Ghi-ta soprano, với quãng tám cao hơn bình thường.
Ghi-ta alto, với quãng năm cao hơn bình thường.
Ghi-ta chính (ghi-ta cổ điển nguyên mẫu).
Ghi-ta đệm Niibori, với quãng bốn thấp hơn bình thường. Niibori thường chỉ đơn giản gọi đó là "ghi-ta đệm", mặc dù ghi-ta đệm của Niibori khác với các loại ghi-ta đệm thông thường.
Ghi-ta contrabass ,với quãng tám thấp hơn bình thường.
Ghi-ta 12 dây
Là loại đàn guitar 12 dây, nhiều gấp đôi số lượng dây của loại ghi-ta acoustic chuẩn mực. Nói cách khác, nó là loại guitar có 6 cặp dây dựa theo loại guitar thông thường: cặp dây số 1 là nốt Mi; cặp số 2 là nốt Si; cặp số 3 là nốt Sol; cặp số 4 là nốt Rê; cặp số 5 là nốt La và cặp số 6 là nốt Mi (thấp hơn nốt Mi của cặp dây số 1 đúng 2 quãng tám).
Twelve string guitar thuộc bộ dây, âm vực khoảng 3 quãng tám, được chế tạo từ gỗ, kim loại và plastic. Đầu thế kỷ 19, người ta đã gắn thêm volume để nhạc cụ này tăng thêm cường độ âm thanh. Trong ban nhạc, nhiệm vụ của guitar 12 dây là đệm hợp âm giữ nhịp. Nó phát ra âm thanh khá "chói tai" như thể có 2 cây guitar cùng được sử dụng một lúc.
Ghi-ta Torres
Nhạc cụ này là kẻ tiền nhiệm của loại acoustic guitar hiện đại. Nó có những thiết bị tăng âm nằm trong khuôn đúc hình nan quạt ở cạnh dưới của mặt thân đàn. Những thiết bị này giúp âm thanh phát ra lớn hơn.
Torres guitar thuộc bộ dây, âm vực rộng 3,5 quãng tám, tổng chiều dài 81cm. Thân đàn bằng gỗ với 6 dây ruột mèo (gut). Trước năm 1852, nghệ nhân Tây Ban Nha Antonio de Torres Jurrado đã chế tạo ra nhạc cụ này, do đó nó được đặt tên là Torres guitar, một loại nhạc cụ đã trở thành chuẩn mực cho loại classical guitar hiện đại. Torres guitar lớn hơn những loại guitar trước đấy, đặc biệt là ở phần thân đàn. Về sau, người ta đã tái cấu trúc phần bên trong thân đàn để âm thanh vang lớn hơn nữa.
Ghi-ta Hawaii
Guitar Hawaii có 6 dây nhưng không có phím. Người chơi dùng một thanh (khối) kim loại (bằng đồng, thép không rỉ...) ở tay trái chặn trên cần đàn để tạo nên các phím. Độ dài ngắn của đoạn dây đàn bị chặn sẽ tạo ra các nốt. Guitar Hawaii chơi rất nhiều bồi âm, có rất nhiều bồi âm vì độ dài dây đàn có thể thay đổi được, và các bồi âm ấy du dương hơn tiếng guitar thông thường.
Tay phải để gẩy có 1 bộ 4 móng (tương tự móng của người chơi đàn tranh) lắp vào 4 ngón: cái, trỏ, giữa, nhẫn.
Dây của Guitar Hawaii là dây trơn, không có vỏ bọc cả 6 dây. 6 dây này cũng không được lên theo các nốt mi, la, rê, sol, si, mi như đàn guitar Tây Ban Nha.
Người chơi khi diễn tấu thì đặt đàn trên đùi. (Gần giống tư thế của những người chơi đàn tranh hoặc đàn tam thập lục).
Ở Việt Nam, nghệ sỹ chơi guitar Hawaii nổi tiếng là Đoàn Chuẩn, Từ Linh.
Ghi-ta pedal thép
Đây cũng là một loại Hawaiian guitar. Nhạc cụ này không có thân đàn, nhưng lại có 2 cần đàn (mỗi cần 10 dây) được đóng khung trên một bàn phím. Pedal steel guitar là loại đàn có nhiều bàn đạp để chỉnh độ cao của các dây. Để tạo ra những nốt riêng lẻ và các hợp âm, người ta khảy dây và dùng một thanh thép hoặc một ống lướt nhẹ dọc theo chiều dài của dây.
Pedal steel guitar có âm vực rộng 6 quãng tám, thân đàn và chân thẳng đứng bằng gỗ hoặc kim loại. Nhạc cụ này cao 23cm, dài từ 71 đến 91cm. Vào khoảng năm 1830, người ta mang loại đàn này từ Mexico đến Hawaii, thế rồi nhạc cụ này phát triển mạnh và trở thành vật đặc trưng của cư dân đảo Hawaii từ thập niên 1940. Joseph Kekuku (nghệ sĩ Hawaii) là người đầu tiên đã dùng một vật gì đó lướt dọc theo chiều dài của dây trong lúc khảy đàn để tạo ra âm thanh "nhão". Sau đó, người ta mới sử dụng một thanh thép hoặc một ống để thay thế dụng cụ này.
Một trong những kỹ thuật phổ biến khi chơi pedal steel guitar là sử dụng các bàn đạp và đòn bẩy đầu gối để thay đổi độ cao thấp, tạo ra những âm thanh luyến láy.
Ghi-ta điện đầu vòm
Là loại đàn ghi-ta đầu vòm truyền thống đã được cải tiến vào cuối thập niên 1930. Electric archtop guitar thuộc bộ dây, có âm vực rộng trên 3 quãng tám, thân đàn làm bằng gỗ với 6 dây đàn kim loại. Nhạc cụ này rất thông dụng đối với những nhạc sĩ chơi nhạc Jazz. Trong thập niên 1940, electric archtop guitar được cải tiến khá nhiều, kết hợp thêm một cutaway, những bộ cảm ứng âm thanh và một công tắc chọn độ rung âm thanh ( selector switch). Loại đàn này phát ra tiếng êm dịu và ấm. Nếu gắn thêm những thiết bị điện tử khác, người ta có thể chơi những nốt riêng lẻ hay tạo thành giai điệu hoặc độc tấu.
Electric archtop guitar là nhạc cụ gợi ý cho sự phát triển loại guitar điện tử có thân đàn rắn đặc ngày nay.
Guitar phím lõm
Lục huyền cầm hay ghi-ta Việt Nam, guitar phím lõm, ghi-ta vọng cổ hoặc ghi-ta cải lương là cây đàn được cải biến từ đàn ghi-ta (guitare espagnole moderne) do các nghệ sỹ cải lương Việt Nam sáng tạo ra. Từ cây đàn guitar 6 dây ban đầu, người ta khoét các phím lõm xuống chừng 1 cm, hình bán nguyệt nhằm tạo ra âm thanh khác biệt, tạo độ ngân rung đặc trưng của ca vọng cổ.
Khi dùng chơi nhạc cổ, guitar phím lõm không dùng dây 6.
Dây đàn được lên theo âm giai ngũ cung (pentatonic).
Guitar phím lõm đuợc chủ yếu chơi trong giàn nhạc của cải lương, đờn ca tài tử Nam Bộ.
Ghi-ta điện
Guitar điện
Guitar điện, về cấu tạo cơ bản, vẫn giống guitar cổ điển. Gồm 3 phần chính: đầu (machine head), cần (neck) và thân (body).
Điểm khác biệt chủ yếu của guitar điện nằm ở phần thân đàn. Guitar điện có thân đàn đặc và phẳng. Vì không có thân đàn rỗng, guitar điện được khuếch âm bằng những bộ phận cảm ứng từ (pick-up) nối với các cuộn cảm ứng quấn quanh các lõi (bobbin) đặt chìm trong thân đàn. Mỗi cây guitar điện có thể có từ 1 đến 3 pick-up. Trên thân đàn còn có 2 núm điều chỉnh âm lượng và âm sắc (tone) và lỗ để cắm dây dẫn (jack) đến ampli. So với đàn gỗ, dây đàn điện có khuynh hướng mỏng và dẻo hơn.
Ngoài ra, cần của guitar điện thường có 26 - 28 ngăn, khuynh hướng thường nhỏ dần từ đầu đàn đến thân đàn.
Guitar điện thuộc bộ dây, âm vực thấp hơn hoặc bằng 4 quãng tám. Nó là sản phẩm tổng hợp từ gỗ, kim loại và plastic. Chiều dài của đàn từ 97 cm đến 102 cm.
Ở Mỹ, người ta đã nhiều lần thử nghiệm nhạc cụ này từ thập niên 1920 đến thập niên 1930. Ban đầu, nó là nhạc cụ acoustic gắn bộ khuếch âm ở thân đàn. Đến đầu thập niên 1950, Paul Bigsby và sau đó là Leo Fender đã cải tiến thành đàn guitar rắn đặc với hình dạng như ngày nay ta thường thấy.
Guitar điện thường được diễn tấu chủ yếu theo phong cách nhạc nhẹ. Tùy vào từng thể loại, từng dòng nhạc mà guitar điện được chế tạo theo những nét riêng biệt một cách phù hợp nhất.
Với người chơi jazz, blues, cây đàn được ưa chuộng là đàn có hai pick-ups kép (double-coiled pick-ups) tạo ra âm sắc trầm ấm (humbuckle tone). Hoặc với các rocker, cây guitar có 3 pick-ups đơn (single-coiled pick-ups) tạo nên âm sắc sắc lạnh đặc trưng luôn là lựa chọn số 1.
Ghi-ta điện Les Paul
Nhạc cụ này xuất hiện vào năm 1952. Người ta đã lấy tên của Les Paul, một guitarist (nhạc công ghi-ta) nổi tiếng cuối thập niên 1940 và đầu thập niên 1950, để đặt tên cho loại đàn này. Những mẫu thiết kế đầu tiên của nhạc cụ này do hãng Gibson sản xuất vào đầu thập niên 1950. Tuy nhiên, trong thời kỳ ấy, nhạc cụ này chưa được phổ biến rộng rãi nên ít người mua, vì thế hãng Gibson tạm ngưng sản xuất vào năm 1960. Đến giữa thập niên 1960, nhờ sự chuyển động mạnh của dòng nhạc pop rock nên nhạc cụ này được phục hồi và trở nên chuẩn mực cho tới ngày nay.
Ghi-ta điện Les Paul thuộc bộ dây, âm vực rộng trên 3 quãng tám, làm từ gỗ và có 6 dây đàn bằng kim loại. Nhạc cụ này dài từ 97 đến 102 cm.
Ghi-ta resonator, rsophobic hay dobro
Là loại đàn aucostic guitar có những đĩa nhôm hình nón gắn bên trong thân đàn để khuếch đại âm thanh. Nhạc cụ này phát ra âm thanh đủ lớn để nghe trong những buổi hòa nhạc trực tiếp mà không cần ampli. Resonator guitar và những loại đàn có gắn thiết bị khuếch âm khác như Dobros và Naitionals xuất hiện lần đầu tiên trong thập niên 1930. Người ta sử dụng các nhạc cụ này trong những ban nhạc khiêu vũ, nhạc Jazz và Blue.
Loại đàn này thuộc bộ dây, âm vực rộng 3 quãng tám. Thân đàn làm bằng gỗ, plastic hoặc kim loại. Chiều dài của nhạc cụ này từ 1,02 đến 1,07 m.
Ghi-ta đệm
Guitar đệm có nguồn gốc từ cây đàn contrabass, chịu trách nhiệm bè trầm, nối kết giữa trống và guitar lại với nhau tạo nên một hoà âm hoàn chỉnh.
Dựa trên hình mẫu của cây guitar điện, người ta bắt đầu tạo ra cây guitar bass gồm 4 dây (E, A, D, G) bằng kim loại, cần đàn được chia thành các ngăn (từ 22-24 ngăn) với thùng đàn đặc và bộ phận khuyếch âm. Đến năm 1967 thì cây guitar bass 5 dây và 6 dây cũng ra đời và, cho đến nay, đã có loại guitar bass 7 dây. Tuy nhiên về cấu tạo thì hầu như không có gì thay đổi nữa. Bass điện cũng sử dụng nhứng đồ nghề giống như guitar điện.
Guitar bass có âm vực thấp hơn guitar điện. Nhạc cụ này có hai vai trò quan trọng trong dàn nhạc: phát ra những nốt trầm để hỗ trợ giai điệu chính, và cùng với trống, nó giữ nhịp để giúp những nhạc cụ khác chơi đúng nhịp điệu chung của ban nhạc.
Guitar bass thuộc bộ dây, âm vực rộng 3 quãng tám. Nhạc cụ này có chiều dài 1,1 m, được chế tạo bằng vật liệu tổng hợp như gỗ, kim loại và plastic. Guitar bass do Leo Fender thiết kế lần đầu vào năm 1951. Người ta có thể tạo ra những âm thanh khác nhau cho từng nốt trên nhạc cụ này bằng cách sử dụng ampli, fuzz box, hệ thống echo và nhiều loại thiết bị nhỏ khác.
Ngày nay, cây guitar bass 4 dây xuất hiện phổ biến ở các dòng nhạc jazz, blues, rock và bán cổ điển.
Guitar bass không ngăn phím
Guitar bass không ngăn phím (fretless bass guitar) xuất hiện từ thập niên 1970, được sử dụng rộng rãi như loại đàn double bass truyền thống. Nhạc cụ này cho phép bạn lướt nhẹ qua các nốt để thay đổi độ cao thấp của âm thanh. Guitar bass không ngăn phím phát ra âm thanh phong phú, rất thông dụng với những nhạc công chơi thể loại jazz và rock fusion.
Đây là nhạc cụ thuộc bộ dây, âm vực khoảng 3 quãng tám, được chế tạo từ gỗ, kim loại và plastic. Chiều dài của nó từ 1,1 đến 1,2 m.
Ghi-ta đệm Streinberger
Về cơ bản, Streinberger bass guitar được thiết kế khác biệt so với bất kỳ loại guitar nào. Thân đàn thường được làm bằng plastic dầy, rắn chắn hơn gỗ của loại đàn bass truyền thống. Nó phát ra âm thanh thô cứng, rõ ràng. Thân đàn rỗng và nhỏ, chứa những thiết bị điện tử mà ampli và bộ khuếch âm cho phép tạo ra nhiều loại âm thanh khác nhau.
Streinberger bass guitar thuộc bộ dây, âm vực khoảng 3 quãng tám. Để chế tạo nhạc cụ này, người ta sử dụng nhựa aboxit gia cố với carbon và sợi thủy ngân (một loại than chì). Đây là những chất liệu mới nhất mà Ned Steinberger dùng để chế tạo nhạc cụ này vào đầu thập niên 1980. Theo các chuyên gia, loại than chì để làm đàn này đặc gấp 2 lần và cứng hơn 10 lần so với gỗ và lại bền và nhẹ hơn thép.
Thành viên từ: 05-06-2010
27 tuổi
Hội phó
Lịch sử & Cấu tạo
Lịch Sử
Đàn guitar có một lịch sử phát triển lâu dài, có lẽ khởi đầu từ chiếc dây cung của những nguời thợ săn cổ. Tiếng bật của dây cung khi mũi tên đuợc phóng đi đã gợi ý cho người xưa sáng tạo ra đàn lia, đàn hạc và đàn luyt. Những chiếc đàn này được làm từ gỗ, mai rùa và gân động vật. Ở Hy Lạp, thế kỷ 7, người ta thấy xuất hiện phổ biến đàn lia và đàn cithara (một loại đàn lớn cồng kềnh, bắt chước cơ cấu của đàn lia với mặt gỗ to bản).
Từ guitar bắt nguồn từ chữ cithara. Cây đàn guitar đầu tiên có lẽ xuất hiện ở Ai Cập và Babylon từ 1000 năm trước Công nguyên. Trải qua nhiều biến đổi, nó được những đạo quân xâm lược mang đến châu Âu khoảng thế kỷ thứ 8 và phát triển rực rỡ vào thế kỷ 14, đặc biệt tại Tây Ban Nha.
Cùng với những nhạc cụ biểu diễn lưu động khác, cây đàn rebec (đàn violon 3 dây thời cổ) có bầu tròn đã theo chân các đạo quân xâm lược tới Tây Ban Nha, trở thành một nhạc cụ phổ biến, làm nên một làn gió mới cho cuộc sống của những người dân nơi đây. Rất nhiều nhạc sỹ đã sáng tác Văn bản liên kết dựa trên thanh âm của đàn Rebec. Thậm chí Giáo hội Tây Ban Nha đã phải ra lệnh cấm các nhà thờ được chơi loại nhạc cụ này vì tính chất phóng khoáng xô bồ của nó.
Người ta không biết từ guitarra xuất hiện ở Tây Ban Nha từ khi nào. Tuy nhiên, trong suốt thế kỷ 14, có hai loại nhạc cụ mang tên guittara là đàn guittara Latina và guittara Moisca đã chiếm ngôi vị độc tôn ở xứ sở bò tót.
Nhạc cụ bộ dây cổ nhất được tìm thấy tại khu vực Alaja Huyuk (thuộc bán đảo Anatoli) có niên đại 1400 trước Công nguyên. Người ta còn tìm thấy một bức tượng đá cổ ở Hy Lạp minh hoạ một phụ nữ đang ôm đàn. Điểm đặc biệt là tư thế của nàng trùng khớp với tư thế chơi đàn của các nghệ sỹ guitar ngày nay.
Vào thế kỷ thứ 15 vihuela là nhạc cụ đầu tiên mang đầy đủ những đặc trưng của cây đàn guitar. Những bản nhạc viết cho nhạc cụ này còn lưu giữ được cho thấy sự hoàn thiện đáng kinh ngạc.
Những cây đàn đầu tiên tại Ý mang lại những cải tiến đáng kể, làm nên đặc trưng của cây guitar ngày nay. Đàn có một lỗ thoát âm duy nhất, một cần đàn và các khoá. Dây đàn thường gồm 4 dây đôi (như đàn mandoline) và một dây đơn. Hộp đàn có hình số 8 và dài hơn so với cây đàn guitar hiện đại.
Tuy nhiên, phải đợi đến thế kỷ 19, dưới bàn tay tài hoa của nghệ nhân bậc thầy Antonio de Torres Jurado (1817-1892) cây đàn guitar mới tìm được sự hoàn hảo của mình: đơn giản và thanh thoát. Đầu tiên phải kể đến tỉ lệ cân xứng. Trong thùng đàn, de Torres đã thay cho 4 hoặc 5 thanh ngang truyền thống bằng một hệ thống 7 thanh gỗ hình dẻ quạt. Chúng được phân chia tỷ lệ một cách chuẩn xác đến mức sau này không ai có thể vượt qua và nhờ đó những cây đàn của de Torres luôn có âm thanh mượt mà, truyền cảm và sức ngân vang rất êm, rất sâu. De Torres cũng là người tìm ra độ dài chuẩn mực của dây đàn là 65 cm. Có thể nói cho đến nay, khó ai có thể vượt qua sự mẫu mực về thanh âm và hình dáng của cây đàn của de Torres.
Một trong những giai đoạn phát triển tột bậc của cây đàn sáu dây là thời vua Ludwig XIV[cần dẫn nguồn]. Người ta có thể thưởng thức tiếng đàn từ trong cung đình giàu sang tới những góc chợ nhỏ của những người bình dân. Ai ai cũng say mê guitar cho dù họ ở giai tầng nào của xã hội. Tuy nhiên, chính vì ý nghĩ kỳ quái của tầng lớp quý tộc rằng họ đang cùng thưởng thức âm nhạc với giới bình dân mà cây đàn guitar đã có một thời gian dài không hề xuất hiện ở nơi cung đình.
Dù thế, cây đàn guitar vẫn âm thầm phát triển. Với cảm hứng nghệ thuật từ cuộc sống bình dân, họa sĩ Michelangelo Merisi da Caravaggio đã sáng lập ra một trường phái nghệ thuật pha trộn giữa tĩnh vật và phồn thực mà tâm điểm của nó là tiếng đàn guitar phóng khoáng và những bước nhảy vui nhộn bên bàn tiệc của những cô nàng hầu gái và những anh chàng nông phu hồn hậu. Có thể nói đây cũng là tiền đề dần hình thành nên dòng nhạc flamenco vô cùng quyến rũ, đặc trưng Tây Ban Nha.
Những tên tuổi như Ferdinando Carulli (1770-1841), Fernando Sor (1778-1839), Mauro Giuliani (1781-1829), Matteo Carcassi (1792-1853) và đặc biệt là Francisco Tárrega (1852-1909) đẵ góp phần đưa tiếng đàn guitar trở lại đời sống âm nhạc hàn lâm. Những bản nhạc kinh điển không chỉ mô phạm mà còn tràn đầy tính biểu cảm và sự tinh tế. Với mong muốn cây guitar có một vị trí trong dàn nhạc giao hưởng, Tárrega đã không ngừng phát triển kỹ thuật chơi nhạc guitar, chuyển soạn các tác phẩm của Frédéric Chopin, Robert Schumann, Johann Sebastian Bach cho guitar.
Sau này, tiếp nối con đường của Francisco Tárrega, Andrés Segovia (1893-1987) cùng với cây lục huyền cầm lần lượt chinh phục tất cả các phòng hòa nhạc.
Bên cạnh sự phát triển của dòng nhạc hàn lâm, cây guitar cũng rẽ nhánh sang dòng âm nhạc bình dân mà đáng kể nhất phải nói đến flamenco. Kết hợp giữa tiếng guitar chau chuốt, nhịp điệu nhanh, những bước nhảy, tiếng vỗ tay hay là dậm gót của các vũ công, flamenco thực sự mang đến cho người thưởng thức sự tươi đẹp của tâm hồn Tây Ban Nha. Biết bao thế hệ nghệ sĩ flamenco đã nói tiếp nhau giữ gìn và mở rộng dòng nhạc này. Tuy nhiên, họ kế nghiệp nhau chủ yếu bằng cách học truyền khẩu nên tên tuổi và âm nhạc của họ cũng chỉ được "truyền khẩu" trong dân gian. Ramón Montoyaphòng hòa nhạc. Làm được điều này là do ông đã kết hợp một cách hài hoà sự thuần khiết của flamenco và tính kỹ thuật của guitar cổ điển.
Sang đầu thế kỷ 20, cây guitar sáu dây đã có sự phát triển mạnh mẽ trong mọi tầng lớp xã hội. Cùng với những biến chuyển mới trong đời sống nghệ thuật, kinh tế, xã hội, chính trị, tiếng đàn guitar đã rẽ sang các nhánh mới như nhạc rock, nhạc jazz và trở thành nhạc cụ phổ thông nhất trong đời sống âm nhạc hiện đại.
Cấu tạo
Bộ phận quan trọng nhất của đàn là dây đàn và thùng đàn. Thùng có tác dụng cộng hưởng và khuếch đại âm thanh. Khi ta gảy dây đàn tức là làm cho dây đàn rung động, thùng đàn sẽ cộng hưởng với tần số rung động của dây đàn, làm cho lớp không khí xung quanh mặt thùng đàn dao động với cùng tần số và tai ta nghe được âm thanh. Tùy theo tần số dao động của dây đàn mà tai ta nghe được các âm thanh trầm bổng khác nhau.
Những phần cơ bản của ghi ta điện và cổ điển
Headstock (đầu đàn)
Nut (lược đàn)
Machine heads (bộ trục lên dây đàn hoặc những chốt chỉnh dây)
Frets (những phím đàn)
Truss rod
Inlays
Neck (cần đàn)
Heel (acoustic or Spanish), neckjoint (electric)
Body (thân đàn)
Pickups (bộ phận cảm ứng âm thanh)
Electronics (điện tử)
Bridge (ngựa đàn)
Pickguard
Back (mặt sau)
Soundboard (top)
Body sides (ribs)
Sound hole, with rosette inlay (lỗ thoát âm)
Strings (những dây đàn)
Saddle (lưng ngựa đàn)
Fretboard or fingerboard (bàn phím)
28-02-2012 01:34:30 PM
nhungde...
^_^ -Thay Đổi- ^_^
Siêu nhân Nối (4545)
Thành viên từ: 05-06-2010
27 tuổi
Hội phó
Phân loại
Theo dòng phát triển của thời gian, cùng với những biến đổi tất yếu của xã hội, tư tưởng, ý thức của con người mà cây đàn guitar cũng có những cải biến đáng kể.
Xét theo dòng nhạc, ghi-ta được phân chia thành 2 dòng chính thống: guitar cổ điển và guitar nhạc nhẹ. Guitar cổ điển thường là đàn gỗ, có 6 dây, đôi khi được thiết kế thành 12 dây. Trong nhạc nhẹ, có nhiều thể loại phong phú hơn nên người ta cũng đồng thời chia guitar thành các dòng như ghi-ta flamenco, jazz hay rock.
Xét về cấu tạo, đàn ghi-ta được chia thành ghi-ta điện, ghi-ta Hawaii, ghi-ta phím lõm, ghi-ta đệm (bass), ghi-ta hai cần, ghi-ta 4 dây, 7 dây, 12 dây. Nhưng thông thường ghi-ta được chia làm 2 nhóm lớn: ghi-ta thùng (acoustic guitar) và ghi-ta điện (electric guitar).
Ghi-ta thùng (acoustic guitar)
Ghi-ta thùng đã thâm nhập vào rất nhiều thể loại âm nhạc khác nhau. Bên cạnh vai trò là những nhà solo tuyệt vời, acoustic cũng đã hòa nhập rất hài hòa với các dụng cụ âm nhạc khác.
Ghi-ta acoustic về cơ bản là nhạc cụ không dùng điện, khối lượng nhẹ, thường được làm chủ yếu từ gỗ, dễ mang theo khi di chuyển. Dây đàn được làm chủ yếu từ dây sắt hoặc dây nilon. Trái với Ghi-ta điện, cây đàn ghi-ta thùng không sử dụng một thiết bị tăng âm nào gắn vào cây đàn, trái lại nó sử dụng một miếng gỗ tăng âm gắn vào phía trước thân đàn. Vì vậy, so với các nhạc cụ khác trong một dàn nhạc giao hưởng, âm thanh của cây ghi-ta thùng thường nhỏ hơn và vi vậy khi ghi-ta được chơi chung trong các dàn nhạc, nó thường được gắn thêm các bộ phận cảm ứng từ dùng để khuếch đại âm thanh (gọi là pick-up). Các ghi-ta acoustic hiện nay sử dụng rất nhiều loại pick-up khác nhau để các nhạc công có thể dễ dàng điều chỉnh âm lượng của ghi-ta.
Đàn ghi-ta aucostic có khả năng trình diễn ở nhiều thể loại nhạc khác nhau từ nhạc cổ điển, nhạc đồng quê, nhạc jazz cho đến flamenco với tính biểu cảm tuyệt vời.
Ghi-ta acoustic thuờng có:
phím đàn hẹp hơn guitar classic
thùng đàn hơi mỏng hơn classic, phía trên thường có một miếng hình khuyết để trang trí và tránh làm xướt thùng đàn khi đánh miếng gảy
Một số cây, ở mặt bên trên của thùng đàn còn có chổ để móc dây thiết kế sẵn để móc dây đeo vào đứng đánh
Ta có thể chia ghi-ta thùng ra thành nhiều nhóm lớn: ghi-ta cổ điển và ghi-ta flamenco; ghi-ta dây thép với phần đầu phẳng (còn gọi là ghi-ta folk); ghi-ta 12 dây; ghi-ta đầu vòm. Ghi-ta thùng còn bao hàm một số loại ghi-ta không gắn các bộ phận tăng âm và dùng trong một số trường hợp như loại ghi-ta thùng để đánh đệm trong các ban nhạc, chúng có cùng tông với loại ghi-ta điện cùng dùng để đánh đệm.
Một số biến thể của ghi-ta acoustic:
Phiên bản đầu tiên của ghi-ta aucostic là cây đàn guitar cổ điển (classical guitar)
Đàn dây kim loại: được tạo vào khoảng thế kỉ 19. So với dây đàn của ghi-ta cổ điển, điểm khác biệt lớn nhất là nó được căng dây kim loại và đôi khi thùng đàn to hơn. Cùng với ghi-ta điện (electric guitar), nó đã trở thành một nhạc cụ cốt lõi trong nhạc pop.
Resonator guitar: có thân đàn thường được làm từ kim loại. Cách làm này giúp nâng cao âm thanh để chơi trong dàn nhạc giao hưởng và thính phòng. Nó ra đời ở vùng trung tâm phía Bắc Mĩ vào khoảng thập niên 1920 và thập niên 1930.
Đàn 12 dây: có số dây đàn là 12, gấp đôi một cây đàn bình thường. Cứ mỗi cặp 2 dây sẽ thể hiện một cao độ. Với cây đàn này một nghệ sĩ có thể thể hiện như 2 người đang cùng chơi. Do tính chất 2 dây/1 cao độ, tính cộng hưởng là rất cao nên có ảnh hưởng rất rõ ràng và tích cực tới người nghe.
Ghi-ta Torres: được coi là bậc tiền bối trong dòng acoustic guitar hiện đại. Nó có thân đàn to hơn một chút và rất giống cây đàn ghi-ta cổ điển.
Ngoài ra, ở Việt Nam thì quen chơi đàn thùng. Đàn thùng thì cũng tương tự như đàn cổ điển, có cái thân rỗng và có lỗ âm thanh. Dây thì thường là sắt bao đồng, dây cứng hơn loại nylon, và dây đàn được giữ trên mình đàn bằng sáu cái chốt nhựa hoặc kim loại, chứ không cột lại như đàn nylon.
Ghi-ta Ba-rốc (Baroque) và ghi-ta Phục Hưng (Renaissance)
Tiền thân của ghi-ta hiện đại. So với ghi-ta cổ điển, nó nhỏ và thanh tú hơn, và âm thanh phát ra cũng nhỏ hơn. Nó có dây đạt thành cặp như ghi-ta 12 dây, nhưng chỉ có 3-4 cặp, khác với ghi-ta 12 dây có 6 cặp ứng với đủ 12 dây. Ghi-ta Ba-rốc được dùng để đánh đệm cũng như đánh đơn, và thường được thấy trong các buổi biễu diễn âm nhạc vào thời kỳ sớm của lịch sử âm nhạc (500-1760 SCN) (Instrucción de Música sobre la Guitarra Española của Gaspar Sanz xuất bản vào năm 1674 bao gồm rất nhiều bài ghi-ta đánh đơn trong thời kỳ đó). Trong khi ghi-ta Ba-rốc có thân đàng phẳng thì ghi-ta Phục Hưng được trang trí rất cầu kỳ với những lớp gổ và ngà voi trang trí trên khắp thân và cổ đàn, và một paper-cutout inverted "bánh cưới" phía trong lổ thân đàn.
Ghi-ta cổ điển (Classical guitar)
Nhạc cụ này được chế tạo từ một bản thiết kế vào khoảng 150 năm trước đây. Nó là loại đàn acoustic guitar có 6 dây (thường làm bằng nilon), âm thanh phát ra nghe êm dịu. Nhạc cụ này có thể được dùng trong rất nhiều loại thể loại nhạc khác nhau: từ nhạc Tây Ban nha, folk, jazz cho tới nhạc độc tấu và hòa tấu và thường được chơi khi nhạc công ngồi tại một vị trí cố định.
Classical guitar thuộc bộ dây, âm vực rộng khoảng 3 quãng tám, được chế tạo từ nhiều loại gỗ khác nhau, có chiều dài xấp xỉ 1 m. Nhạc cụ này phát triển từ thời Trung cổ. Thời kỳ đầu, nó xuất hiện ở Tây Ban Nha và Ý, giai đoạn ấy nó có hình dáng nhỏ gọn hơn loại classical guitar ngày nay.
Hiện nay, các loại ghi-ta cổ điển sử dụng trong dàn nhạc giao hưởng Niibori Guitar được phân loại như sau:
Ghi-ta sopranino hay ghi-ta piccolo, với quãng tám và quãng năm cao hơn bình thường một chút.
Ghi-ta soprano, với quãng tám cao hơn bình thường.
Ghi-ta alto, với quãng năm cao hơn bình thường.
Ghi-ta chính (ghi-ta cổ điển nguyên mẫu).
Ghi-ta đệm Niibori, với quãng bốn thấp hơn bình thường. Niibori thường chỉ đơn giản gọi đó là "ghi-ta đệm", mặc dù ghi-ta đệm của Niibori khác với các loại ghi-ta đệm thông thường.
Ghi-ta contrabass ,với quãng tám thấp hơn bình thường.
Ghi-ta 12 dây
Là loại đàn guitar 12 dây, nhiều gấp đôi số lượng dây của loại ghi-ta acoustic chuẩn mực. Nói cách khác, nó là loại guitar có 6 cặp dây dựa theo loại guitar thông thường: cặp dây số 1 là nốt Mi; cặp số 2 là nốt Si; cặp số 3 là nốt Sol; cặp số 4 là nốt Rê; cặp số 5 là nốt La và cặp số 6 là nốt Mi (thấp hơn nốt Mi của cặp dây số 1 đúng 2 quãng tám).
Twelve string guitar thuộc bộ dây, âm vực khoảng 3 quãng tám, được chế tạo từ gỗ, kim loại và plastic. Đầu thế kỷ 19, người ta đã gắn thêm volume để nhạc cụ này tăng thêm cường độ âm thanh. Trong ban nhạc, nhiệm vụ của guitar 12 dây là đệm hợp âm giữ nhịp. Nó phát ra âm thanh khá "chói tai" như thể có 2 cây guitar cùng được sử dụng một lúc.
Ghi-ta Torres
Nhạc cụ này là kẻ tiền nhiệm của loại acoustic guitar hiện đại. Nó có những thiết bị tăng âm nằm trong khuôn đúc hình nan quạt ở cạnh dưới của mặt thân đàn. Những thiết bị này giúp âm thanh phát ra lớn hơn.
Torres guitar thuộc bộ dây, âm vực rộng 3,5 quãng tám, tổng chiều dài 81cm. Thân đàn bằng gỗ với 6 dây ruột mèo (gut). Trước năm 1852, nghệ nhân Tây Ban Nha Antonio de Torres Jurrado đã chế tạo ra nhạc cụ này, do đó nó được đặt tên là Torres guitar, một loại nhạc cụ đã trở thành chuẩn mực cho loại classical guitar hiện đại. Torres guitar lớn hơn những loại guitar trước đấy, đặc biệt là ở phần thân đàn. Về sau, người ta đã tái cấu trúc phần bên trong thân đàn để âm thanh vang lớn hơn nữa.
Ghi-ta Hawaii
Guitar Hawaii có 6 dây nhưng không có phím. Người chơi dùng một thanh (khối) kim loại (bằng đồng, thép không rỉ...) ở tay trái chặn trên cần đàn để tạo nên các phím. Độ dài ngắn của đoạn dây đàn bị chặn sẽ tạo ra các nốt. Guitar Hawaii chơi rất nhiều bồi âm, có rất nhiều bồi âm vì độ dài dây đàn có thể thay đổi được, và các bồi âm ấy du dương hơn tiếng guitar thông thường.
Tay phải để gẩy có 1 bộ 4 móng (tương tự móng của người chơi đàn tranh) lắp vào 4 ngón: cái, trỏ, giữa, nhẫn.
Dây của Guitar Hawaii là dây trơn, không có vỏ bọc cả 6 dây. 6 dây này cũng không được lên theo các nốt mi, la, rê, sol, si, mi như đàn guitar Tây Ban Nha.
Người chơi khi diễn tấu thì đặt đàn trên đùi. (Gần giống tư thế của những người chơi đàn tranh hoặc đàn tam thập lục).
Ở Việt Nam, nghệ sỹ chơi guitar Hawaii nổi tiếng là Đoàn Chuẩn, Từ Linh.
Ghi-ta pedal thép
Đây cũng là một loại Hawaiian guitar. Nhạc cụ này không có thân đàn, nhưng lại có 2 cần đàn (mỗi cần 10 dây) được đóng khung trên một bàn phím. Pedal steel guitar là loại đàn có nhiều bàn đạp để chỉnh độ cao của các dây. Để tạo ra những nốt riêng lẻ và các hợp âm, người ta khảy dây và dùng một thanh thép hoặc một ống lướt nhẹ dọc theo chiều dài của dây.
Pedal steel guitar có âm vực rộng 6 quãng tám, thân đàn và chân thẳng đứng bằng gỗ hoặc kim loại. Nhạc cụ này cao 23cm, dài từ 71 đến 91cm. Vào khoảng năm 1830, người ta mang loại đàn này từ Mexico đến Hawaii, thế rồi nhạc cụ này phát triển mạnh và trở thành vật đặc trưng của cư dân đảo Hawaii từ thập niên 1940. Joseph Kekuku (nghệ sĩ Hawaii) là người đầu tiên đã dùng một vật gì đó lướt dọc theo chiều dài của dây trong lúc khảy đàn để tạo ra âm thanh "nhão". Sau đó, người ta mới sử dụng một thanh thép hoặc một ống để thay thế dụng cụ này.
Một trong những kỹ thuật phổ biến khi chơi pedal steel guitar là sử dụng các bàn đạp và đòn bẩy đầu gối để thay đổi độ cao thấp, tạo ra những âm thanh luyến láy.
Ghi-ta điện đầu vòm
Là loại đàn ghi-ta đầu vòm truyền thống đã được cải tiến vào cuối thập niên 1930. Electric archtop guitar thuộc bộ dây, có âm vực rộng trên 3 quãng tám, thân đàn làm bằng gỗ với 6 dây đàn kim loại. Nhạc cụ này rất thông dụng đối với những nhạc sĩ chơi nhạc Jazz. Trong thập niên 1940, electric archtop guitar được cải tiến khá nhiều, kết hợp thêm một cutaway, những bộ cảm ứng âm thanh và một công tắc chọn độ rung âm thanh ( selector switch). Loại đàn này phát ra tiếng êm dịu và ấm. Nếu gắn thêm những thiết bị điện tử khác, người ta có thể chơi những nốt riêng lẻ hay tạo thành giai điệu hoặc độc tấu.
Electric archtop guitar là nhạc cụ gợi ý cho sự phát triển loại guitar điện tử có thân đàn rắn đặc ngày nay.
Guitar phím lõm
Lục huyền cầm hay ghi-ta Việt Nam, guitar phím lõm, ghi-ta vọng cổ hoặc ghi-ta cải lương là cây đàn được cải biến từ đàn ghi-ta (guitare espagnole moderne) do các nghệ sỹ cải lương Việt Nam sáng tạo ra. Từ cây đàn guitar 6 dây ban đầu, người ta khoét các phím lõm xuống chừng 1 cm, hình bán nguyệt nhằm tạo ra âm thanh khác biệt, tạo độ ngân rung đặc trưng của ca vọng cổ.
Khi dùng chơi nhạc cổ, guitar phím lõm không dùng dây 6.
Dây đàn được lên theo âm giai ngũ cung (pentatonic).
Guitar phím lõm đuợc chủ yếu chơi trong giàn nhạc của cải lương, đờn ca tài tử Nam Bộ.
Ghi-ta điện
Guitar điện
Guitar điện, về cấu tạo cơ bản, vẫn giống guitar cổ điển. Gồm 3 phần chính: đầu (machine head), cần (neck) và thân (body).
Điểm khác biệt chủ yếu của guitar điện nằm ở phần thân đàn. Guitar điện có thân đàn đặc và phẳng. Vì không có thân đàn rỗng, guitar điện được khuếch âm bằng những bộ phận cảm ứng từ (pick-up) nối với các cuộn cảm ứng quấn quanh các lõi (bobbin) đặt chìm trong thân đàn. Mỗi cây guitar điện có thể có từ 1 đến 3 pick-up. Trên thân đàn còn có 2 núm điều chỉnh âm lượng và âm sắc (tone) và lỗ để cắm dây dẫn (jack) đến ampli. So với đàn gỗ, dây đàn điện có khuynh hướng mỏng và dẻo hơn.
Ngoài ra, cần của guitar điện thường có 26 - 28 ngăn, khuynh hướng thường nhỏ dần từ đầu đàn đến thân đàn.
Guitar điện thuộc bộ dây, âm vực thấp hơn hoặc bằng 4 quãng tám. Nó là sản phẩm tổng hợp từ gỗ, kim loại và plastic. Chiều dài của đàn từ 97 cm đến 102 cm.
Ở Mỹ, người ta đã nhiều lần thử nghiệm nhạc cụ này từ thập niên 1920 đến thập niên 1930. Ban đầu, nó là nhạc cụ acoustic gắn bộ khuếch âm ở thân đàn. Đến đầu thập niên 1950, Paul Bigsby và sau đó là Leo Fender đã cải tiến thành đàn guitar rắn đặc với hình dạng như ngày nay ta thường thấy.
Guitar điện thường được diễn tấu chủ yếu theo phong cách nhạc nhẹ. Tùy vào từng thể loại, từng dòng nhạc mà guitar điện được chế tạo theo những nét riêng biệt một cách phù hợp nhất.
Với người chơi jazz, blues, cây đàn được ưa chuộng là đàn có hai pick-ups kép (double-coiled pick-ups) tạo ra âm sắc trầm ấm (humbuckle tone). Hoặc với các rocker, cây guitar có 3 pick-ups đơn (single-coiled pick-ups) tạo nên âm sắc sắc lạnh đặc trưng luôn là lựa chọn số 1.
Ghi-ta điện Les Paul
Nhạc cụ này xuất hiện vào năm 1952. Người ta đã lấy tên của Les Paul, một guitarist (nhạc công ghi-ta) nổi tiếng cuối thập niên 1940 và đầu thập niên 1950, để đặt tên cho loại đàn này. Những mẫu thiết kế đầu tiên của nhạc cụ này do hãng Gibson sản xuất vào đầu thập niên 1950. Tuy nhiên, trong thời kỳ ấy, nhạc cụ này chưa được phổ biến rộng rãi nên ít người mua, vì thế hãng Gibson tạm ngưng sản xuất vào năm 1960. Đến giữa thập niên 1960, nhờ sự chuyển động mạnh của dòng nhạc pop rock nên nhạc cụ này được phục hồi và trở nên chuẩn mực cho tới ngày nay.
Ghi-ta điện Les Paul thuộc bộ dây, âm vực rộng trên 3 quãng tám, làm từ gỗ và có 6 dây đàn bằng kim loại. Nhạc cụ này dài từ 97 đến 102 cm.
Ghi-ta resonator, rsophobic hay dobro
Là loại đàn aucostic guitar có những đĩa nhôm hình nón gắn bên trong thân đàn để khuếch đại âm thanh. Nhạc cụ này phát ra âm thanh đủ lớn để nghe trong những buổi hòa nhạc trực tiếp mà không cần ampli. Resonator guitar và những loại đàn có gắn thiết bị khuếch âm khác như Dobros và Naitionals xuất hiện lần đầu tiên trong thập niên 1930. Người ta sử dụng các nhạc cụ này trong những ban nhạc khiêu vũ, nhạc Jazz và Blue.
Loại đàn này thuộc bộ dây, âm vực rộng 3 quãng tám. Thân đàn làm bằng gỗ, plastic hoặc kim loại. Chiều dài của nhạc cụ này từ 1,02 đến 1,07 m.
Ghi-ta đệm
Guitar đệm có nguồn gốc từ cây đàn contrabass, chịu trách nhiệm bè trầm, nối kết giữa trống và guitar lại với nhau tạo nên một hoà âm hoàn chỉnh.
Dựa trên hình mẫu của cây guitar điện, người ta bắt đầu tạo ra cây guitar bass gồm 4 dây (E, A, D, G) bằng kim loại, cần đàn được chia thành các ngăn (từ 22-24 ngăn) với thùng đàn đặc và bộ phận khuyếch âm. Đến năm 1967 thì cây guitar bass 5 dây và 6 dây cũng ra đời và, cho đến nay, đã có loại guitar bass 7 dây. Tuy nhiên về cấu tạo thì hầu như không có gì thay đổi nữa. Bass điện cũng sử dụng nhứng đồ nghề giống như guitar điện.
Guitar bass có âm vực thấp hơn guitar điện. Nhạc cụ này có hai vai trò quan trọng trong dàn nhạc: phát ra những nốt trầm để hỗ trợ giai điệu chính, và cùng với trống, nó giữ nhịp để giúp những nhạc cụ khác chơi đúng nhịp điệu chung của ban nhạc.
Guitar bass thuộc bộ dây, âm vực rộng 3 quãng tám. Nhạc cụ này có chiều dài 1,1 m, được chế tạo bằng vật liệu tổng hợp như gỗ, kim loại và plastic. Guitar bass do Leo Fender thiết kế lần đầu vào năm 1951. Người ta có thể tạo ra những âm thanh khác nhau cho từng nốt trên nhạc cụ này bằng cách sử dụng ampli, fuzz box, hệ thống echo và nhiều loại thiết bị nhỏ khác.
Ngày nay, cây guitar bass 4 dây xuất hiện phổ biến ở các dòng nhạc jazz, blues, rock và bán cổ điển.
Guitar bass không ngăn phím
Guitar bass không ngăn phím (fretless bass guitar) xuất hiện từ thập niên 1970, được sử dụng rộng rãi như loại đàn double bass truyền thống. Nhạc cụ này cho phép bạn lướt nhẹ qua các nốt để thay đổi độ cao thấp của âm thanh. Guitar bass không ngăn phím phát ra âm thanh phong phú, rất thông dụng với những nhạc công chơi thể loại jazz và rock fusion.
Đây là nhạc cụ thuộc bộ dây, âm vực khoảng 3 quãng tám, được chế tạo từ gỗ, kim loại và plastic. Chiều dài của nó từ 1,1 đến 1,2 m.
Ghi-ta đệm Streinberger
Về cơ bản, Streinberger bass guitar được thiết kế khác biệt so với bất kỳ loại guitar nào. Thân đàn thường được làm bằng plastic dầy, rắn chắn hơn gỗ của loại đàn bass truyền thống. Nó phát ra âm thanh thô cứng, rõ ràng. Thân đàn rỗng và nhỏ, chứa những thiết bị điện tử mà ampli và bộ khuếch âm cho phép tạo ra nhiều loại âm thanh khác nhau.
Streinberger bass guitar thuộc bộ dây, âm vực khoảng 3 quãng tám. Để chế tạo nhạc cụ này, người ta sử dụng nhựa aboxit gia cố với carbon và sợi thủy ngân (một loại than chì). Đây là những chất liệu mới nhất mà Ned Steinberger dùng để chế tạo nhạc cụ này vào đầu thập niên 1980. Theo các chuyên gia, loại than chì để làm đàn này đặc gấp 2 lần và cứng hơn 10 lần so với gỗ và lại bền và nhẹ hơn thép.
Thursday, March 1, 2012
Friday, February 10, 2012
101
101 ĐIỀU THÚ VỊ TRÊN TRÁI ĐẤT
GH67-Post
Chúng ta đang sống trên một quả cầu đầy những điều kỳ quặc và độc đáo. Thực chất nó không phải hình cầu mà là một hành tinh hoang dại, lổn nhổn những ngọn núi lửa lụi tàn, rung chuyển bởi các trận động đất kinh hoàng, ngập chìm trong những cơn đại hồng thuỷ. Nhưng đâu mới là điều tồi tệ nhất?
Một số thung lũng của trái đất chìm sâu dưới biển. Nhiều ngọn núi lại vươn chồi lên trên lớp không khí mỏng. Bạn có thể nêu tên điểm thấp nhất trên trái đất? Đỉnh cao nhất? Bạn có biết đường vào trung tâm trái đất là bao xa và có gì ở đó? Nơi nóng nhất, lạnh nhất, khô nhất, lộng gió nhất là ở đâu?
1. Nơi nào nóng nhất trên trái đất?
Nếu bạn đoán là Thung lũng chết ở California, Mỹ, thì bạn hoàn toàn sai. El Azizia ở Libya đã đạt được nhiệt độ kỷ lục 57,8 độ C vào 13/9/1922. Thung lũng chết chỉ đạt 56,6 độ C vào 10/7/1913.
2. Nơi lạnh nhất trên thế giới?
Ở rất xa, nhiệt độ thấp nhất từng đo được trên trái đất là -89 độ C ở Vostok, Nam Cực, vào ngày 21/7/1983.
3. Cái gì tạo nên sấm sét?
Nếu bạn đoán rằng "tia chớp" thì cũng xin bái phục. Nhưng có một câu trả lời sáng tỏ hơn. Không khí xung quanh tia chớp bị hâm nóng lên gấp 5 lần nhiệt độ của mặt trời. Sự hâm nóng đột ngột này khiến không khí nở ra nhanh hơn tốc độ của âm thanh, làm cho không khí xung quanh bị nén lại và tạo nên shock wave, chúng ta nghe thấy như tiếng sấm.
4. Đá có thể nổi trên nước?
Trong những đợt phun trào núi lửa, lớp khí bị bắn ra mạnh mẽ từ dung nham tạo nên một loại đá sủi bọt gọi là đá bọt, chứa đầy các bong bóng khí. Một số hòn đá này có thể nổi trên mặt nước.
5. Đá có thể to lên không?
Có, nhưng theo dõi quá trình này thì còn chán hơn là xem sơn khô. Những hòn đá này (iron-manganese crusts) lớn lên trên các ngọn núi ở dưới biển. Chúng kết tủa chậm rãi vật chất từ nước biển, to lên khoảng 1 mm trong 1 triệu năm. Móng tay của bạn cũng mọc lên từng đó trong 2 tuần.
6. Bao nhiêu lượng bụi từ không trung rơi xuống trái đất mỗi năm?
Con số này vô định, nhưng USGS cho rằng có ít nhất 1.000 triệu gram, tức là khoảng 1.000 tấn vật chất rơi vào bầu khí quyển mỗi năm và hạ cánh xuống bề mặt trái đất.
7. Bụi có thể bay bao xa trong gió?
Một nghiên cứu vào năm 1999 cho biết bụi từ châu Phi đã tìm đường tới Florida và khiến nhiều nơi ở bang này vượt giới hạn chất lượng không khí cho phép do Uỷ ban bảo vệ môi trường Mỹ quy định. Số bụi đó được những cơn gió lớn ở Bắc Phi đón đường và đưa lên cao 6.100 m, nơi đó bụi lại gặp gió mậu dịch và được đưa qua biển. Bụi từ Trung Quốc cũng đã vượt đại dương tìm sang Bắc Mỹ.
8. Thác nước cao nhất thế giới ở đâu?
Thác Thiên thần (Angel Falls) ở Venezuela, chảy từ độ cao 979 m.
9. Hai thành phố lớn nào của Mỹ sẽ bị nhập vào nhau?
Khe nứt San Andreas chạy theo hướng bắc nam đang phân tách với tốc độ 5 cm/năm, khiến cho Los Angeles tiến gần về San Francisco. Ước đoán Los Angeles sẽ trở thành khu vực ngoại ô của thành phố bên Vịnh trong 15 triệu năm nữa.
10. Trái đất có phải hình cầu?
Do hành tinh của chúng ta xoay tròn và linh hoạt hơn bạn có thể tưởng tượng, nó phình ra ở phần giữa, tạo nên hình giống như quả bí ngô. Chỗ phình ra này đang giảm dần qua hàng thế kỷ, nhưng nay bỗng nhiên nó lại phát triển. Chính sự băng tan ngày càng nhiều trên trái đất chính là nguyên nhân khiến vành xích đạo nở ra.
11.Trọng lực trên sao Hỏa bằng 38% trọng lực trái đất, tính ở mực nước biển.
Vì thế, một người nặng 100 kg trên trái đất sẽ nặng 38 kg trên sao Hoả. Tuy vậy, theo những kế hoạch hiện thời của NASA thì phải mất hàng thập kỷ nữa con số này mới được kiểm chứng.
12. Một năm trên sao Hỏa dài bao nhiêu?
Nó đúng bằng một năm, nếu bạn đến từ sao Hỏa. Nhưng đối với người trái đất, nó gần như dài gấp đôi. Hành tinh đỏ mất 687 ngày để quay quanh mặt trời, so với 365 ngày của trái đất.
13. Một ngày trung bình trên sao Hỏa dài bao nhiêu?
Người sao Hỏa có thể ngủ (hoặc làm việc) nhiều hơn nửa tiếng mỗi ngày so với bạn.. Một ngày trên sao Hỏa dài 24 giờ 37 phút, so với 23 giờ 56 phút trên trái đất. Một ngày trên bất cứ hành tinh nào thuộc hệ mặt trời được tính bằng thời gian nó tự xoay tròn đúng một vòng trên trục, tức là làm cho mặt trời nhô lên vào buổi sáng và lặn xuống vào buổi tối.
14. Núi lửa nào lớn nhất?
Núi Mauna Loa ở Hawaii chiếm danh hiệu này trên trái đất. Nó cao 15,2 km tính từ chân núi nằm ở dưới đáy biển. Nhưng ngọn núi Olympus Mons trên sao Hoả còn vĩ đại hơn - nó xuyên thủng bầu trời hành tinh đỏ với độ cao 26 km. Nền móng của ngọn núi này có thể bao phủ hầu như toàn bộ bang Arizona, Mỹ.
15. Trận động đất gây thiệt mạng nhiều nhất từ trước tới nay?
Kỷ lục về trận động đất thần chết xảy ra vào năm 1557 ở Trung Quốc. Nó giáng xuống khu vực nơi người dân chủ yếu sống trong những hang động bằng đá. Dãy đá sụp đổ, giết chết khoảng 830.000 người. Một trận địa chấn kinh hoàng khác cũng đổ xuống Đường Sơn, Trung Quốc vào năm 1976. Hơn 250.000 người thiệt mạng.
16. Trận động đất mạnh nhất trong giai đoạn gần đây?
Trận động đất xảy ở ngoài biển Chile vào năm 1960 có cường độ 9,6 richter và gây ra vết nứt dài 1.600 km. Một trận động đất như vậy xảy ra tại một thành phố lớn có thể làm tan tành những công trình có kỹ thuật xây dựng hiện đại nhất.
17. Trận động đất nào kinh hoàng hơn: Kobe (Nhật Bản) hay Northridge, California (Mỹ)?
Trận động đất ở Northridge vào năm 1994 mạnh 6,7 độ richter và làm 60 người chết, 6.000 người bị thương, thiệt hại hơn 40 tỷ USD.
Trận động đất ở Kobe vào năm 1995 có cường độ 6,7 richter và giết chết 5.530 người. Khoảng 37.000 người bị thương và nền kinh tế thất thoát 100 tỷ USD.
18. Khoảng cách tới trung tâm trái đất là bao xa?
Khoảng cách từ bề mặt trái đất tới trung tâm là gần 5.955 km. Hầu hết thành phần trái đất là chất lỏng. Chỗ vỏ rắn nhất của hành tinh chỉ dày khoảng 66 km - mỏng hơn vỏ của một quả táo, tính theo tỷ lệ tương đương.
19. Ngọn núi cao nhất thế giới?
Núi Everest ở Nepal cao gần 9 km trên mực nước biển.
20. Mặt trăng đã bao giờ gần hơn thế này chưa?
Nó đã từng gần hơn rất nhiều. Một tỷ năm trước đây, mặt trăng nằm trong một quỹ đạo nhỏ hơn, chỉ mất khoảng 20 ngày để quay quanh chúng ta. Một ngày trên trái đất hồi đó dài 18 tiếng. Hiện mặt trăng vẫn tiến ra xa, khoảng 4 cm/năm. Trong khi đó vòng quay của trái đất lại chậm lại, khiến cho ngày kéo dài ra. Trong tương lai xa, một ngày trên trái đất sẽ dài 960 tiếng!
21. Điểm cạn thấp nhất trên trái đất?
Bờ biển Chết ở Trung Đông thấp 400 m dưới mặt biển. Vị trí thứ 2 là Bad Water ở Thung lũng Chết, California, ở vị trí 86 m dưới mặt biển.
22. California đang chìm dần?
Thực tế là một số phần của bang này đang bị như vậy. Sự xê dịch lên xuống của một số hồ nước tự nhiên ở dưới mặt đất đang khiến cho California lún xuống 11cm/năm. Các hệ thống nước và cống ngầm có thể bị đe doạ.
23. Con sông dài nhất?
Sông Nile ở châu Phi dài 6.695 km.
24. Bang chịu nhiều động đất nhất ở Mỹ?
Alaska thường xuyên phải chịu một trận động đất mạnh 7 độ richter mỗi năm, và một cơn động đất mạnh hơn 8 độ richter trung bình sau 14 năm. Florida và North Dakota chịu ít động đất nhất ở Mỹ.
25. Nơi khô hạn nhất trên thế giới?
Vùng Arica ở Chile chỉ có 0,76 mm lượng mưa mỗi năm. Với lượng đó cần mất một thế kỷ để hứng đủ một tách cà phê.
26. Cái gì gây ra sụt lở đất?
Lượng mưa dồn dập trong một giai đoạn ngắn có thể gây ra các dòng chảy bùn và rác thải với tốc độ cao. Lượng mưa dầm dề kéo dài trong một thời gian dài lại tạo ra những vụ lở đất lớn từ từ. Mỗi năm, nước Mỹ thiệt hại 2 tỷ USD do sụt lở đất. Trong một trận bão kỷ lục ở San Francisco vào tháng 1/1982, khoảng 18.000 dòng chảy rác thải hình thành trong một đêm. Thiệt hại tài sản lên tới 66 triệu USD cùng 25 người chết.
27. Bùn chảy với tốc độ bao nhiêu?
Những dòng chảy như thác bùn có thể di chuyển với tốc độ 160 km/giờ.
28. Vật chất trong lòng trái đất cũng chảy?
Bạn đoán đúng rồi đấy. Năm 1999, các nhà khoa học tìm thấy vật liệu tan chảy trong lõi trái đất chảy theo các dòng xoáy mà sức mạnh của nó tương tự như bão lốc.
29. Nơi ẩm ướt nhất trên trái đất?
Lloro, Colombia có lượng mưa trung bình hàng năm là hơn 13 m, gấp 10 lần những thành phố ẩm nhất ở châu Âu hoặc Mỹ.
30. Trái đất có chuyển qua các thời kỳ khác nhau như mặt trăng?
Từ sao Hoả, có thể nhìn thấy trái đất chuyển qua các giai đoạn khác nhau (cũng như chúng ta nhìn thấy sao Kim thay đổi). Trái đất nằm trong quỹ đạo của sao Hoả và khi 2 hành tinh cùng di chuyển qua mặt trời, ánh sáng mặt trời chiếu xuống hành tinh của chúng ta theo một góc khác.
31. Hẻm núi lớn nhất sao Hỏa?
Grand Canyon được coi là hệ thống hẻm núi lớn nhất thế giới, dài 446 km.
Nhưng hẻm núi Valles Marineris trên sao Hoả còn dài tới 4.800 km. Nếu đặt trên bản đồ nước Mỹ, nó sẽ kéo dài từ New York tới Los Angeles. Vết sẹo khổng lồ trên bề mặt hành tinh đỏ này sâu tới 8 km.
32. Hẻm núi sâu nhất ở Mỹ?
Hẻm núi Hells dọc theo biên giới Oregon - Idaho sâu hơn 2,4 km. Trong khi đó, Grand Canyon sâu không quá 2 km.
33. Trái đất có phải là hành tinh đá lớn nhất trong hệ mặt trời?
Hoàn toàn đúng như vậy. Đường kính trái đất tại đường xích đạo là 12.756 km. Sao Kim là 12.104 km. Sao Hoả và sao Thuỷ nhỏ hơn rất nhiều. Sao Diêm Vương cũng là hành tinh đá nhưng quá nhỏ.
34. Có bao nhiêu núi lửa từng hoạt động trên trái đất?
Có khoảng 540 núi lửa trên mặt đất từng phun trào. Không ai biết rõ có bao nhiêu núi lửa ở dưới biển đã hoạt động từ trước tới nay.
35. Không khí bao gồm chủ yếu là ôxy?
Bầu khí quyển của trái đất chiếm 80% là nitơ. Phần còn lại chủ yếu là ôxy, với một lượng rất nhỏ các tạp chất khác.
36. Thác nước cao nhất ở Mỹ?
Thác Yosemite ở California cao 739 m.
37. Bao nhiêu phần trăm lượng nước trên thế giới nằm ở đại dương?
Khoảng 97%. Đại dương chiếm 2/3 bề mặt trái đất, điều đó có nghĩa là nếu có một thiên thạch va vào trái đất thì nó sẽ bắn tung toé.
38. Vùng đất nào chứa lượng nước ngọt lớn nhất trên thế giới?
Gần 70% lượng nước ngọt trên trái đất nằm trong các tảng băng ở Nam cực và Greenland. Số còn lại nằm trong bầu khí quyển, sông suối, mạch nước ngầm và chiếm chỉ khoảng 1%.
39. Đại dương lớn nhất trên trái đất?
Thái Bình Dương bao phủ một diện tích rộng 165 triệu km2, lớn hơn gấp 2 lần Đại Tây Dương. Nó có độ sâu trung bình là 3,9 km.
40. Tại sao trái đất lại hầu như không có miệng hố, trong khi mặt trăng lại lỗ chỗ?
Trái đất hoạt động tích cực hơn về mặt địa lý và thời tiết. Một số miệng hố vài triệu tuổi đã được bao phủ bởi thực vật, biến đổi qua động đất và lở đất, cùng với những hiện tượng mưa gió. Trong khi đó mặt trăng khá yên tĩnh về mặt địa lý và hầu như không có thời tiết, nên các miệng hố trên đó vẫn nguyên sơ qua hàng tỷ.
41. Vùng đất liền thấp nhất trên trái đất?
Bờ biển Chết, nằm giữa Israel và Jordan, nằm ở độ sâu 394 m dưới mực nước biển.
42. Hồ lớn nhất thế giới?
về kích cỡ và dung lượng là Caspian Sea, nằm giữa đông nam châu Âu và tây Á.
43. Nơi có nhiều động đất và phun trào núi lửa nhất trên trái đất?
Hầu hết xảy ra dọc theo ranh giới của hàng chục mảng thạch quyển khổng lồ trôi nổi trên bề mặt trái đất. Một trong những vành đĩa nơi động đất và phun trào núi lửa xảy ra nhiều nhất là quanh Thái Bình Dương, thường được gọi là Vành đai lửa Thái Bình Dương. Nó gây ra các vụ chấn động và nung nóng trải dài từ Nhật Bản tới Alaska và Nam Mỹ.
44. Bên trong trái đất nóng đến mức nào?
Nhiệt độ của trái đất tăng 20 độ C cứ sau mỗi km tiến sâu vào trong. Gần trung tâm, nhiệt độ lên tới ít nhất 3.870 độ C.
45. Ba quốc gia có số núi lửa hoạt động lớn nhất trong lịch sử?
Indonesia, Nhật Bản và Mỹ, theo thứ tự giảm dần về mức độ hoạt động.
46. Có bao nhiêu người trên thế giới đối mặt với thảm họa từ núi lửa?
Vào năm 2000, các nhà khoa học đã ước tính núi lửa sẽ gây ra thảm họa rõ rệt cho ít nhất 500 triệu người, tương đương với dân số toàn thế giới vào đầu thế kỷ 17.
47. Nguồn nào chứa lượng nước ngọt lớn nhất toàn cầu: hồ, suối hoặc nước ngầm?
Nước ngầm chứa tới 30 lần lượng nước so với tất cả các hồ nước ngọt, và gấp 3.000 lần lượng nước ở sông, suối trên toàn cầu. Nước ngầm được chứa trong các tầng ngậm nước tự nhiên ở dưới mặt đất.
48. Vụ động đất nào lớn hơn, năm 1906 ở San Francisco hay 1964 ở Anchorage, Alaska?
Trận động đất ở Anchorage mạnh 9,2 độ richter, trong khi cơn địa chấn ở San Francisco có cường độ 7,8 richter.
49. Vụ động đất nào kinh hoàng hơn về số người thiệt mạng và tài sản: động đất năm 1906 ở San Francisco hay 1964 ở Anchorage?
Trận động đất ở San Francisco đứng đầu. Nó gây ra 700 cái chết so với 114 của trận động đất ở Anchorage. Thiệt hại về tài sản ở San Francisco cũng lớn hơn, do hoả hoạn đã phá huỷ hầu hết các công trình bằng gỗ thời đó.
50. Có phải nhân trái đất là rắn?
Phần bên trong nhân trái đất được coi là rắn. Nhưng phần bên ngoài của nhân lại tan chảy. Các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra được hợp chất chính xác của nó.
51. Có phải toàn bộ trái đất xoay tròn theo một tốc độ?
Phần lõi rắn bên trong - lượng sắt khổng lồ tương đương với kích cỡ của mặt trăng - xoay nhanh hơn phần bên ngoài của lõi sắt là chất lỏng.
52. Có bao nhiêu người chết vì núi lửa trong 500 năm qua?
Ít nhất là 300.000 người. Từ năm 1980 đến 1990, núi lửa đã làm thiệt mạng ít nhất 26.000 người.
53. Bao nhiêu bề mặt trái đất gồm đá núi lửa?
Các nhà khoa học ước tính hơn 3/4 bề mặt trái đất là đá núi lửa - đá phun trào từ núi lửa hay đá tan chảy dưới bề mặt trái đất.
54. Động đất có thể gây ra sóng thần?
Đúng, nếu trận động đất bắt nguồn từ dưới đáy biển. Gần tâm chấn, đáy biển dâng lên hạ xuống, đẩy nước lên xuống. Nhịp điệu này tạo ra làn sóng toả ra mọi hướng. Một cơn sóng thần có thể rất to nhưng khá thấp ở dưới nước sâu. Khi gần đến bờ nó vọt lên và có thể đạt tới chiều cao của các toà nhà cao tầng. Thiên thạch cũng có thể gây ra sóng thần.
55. Có phải sóng thần đều là những đợt sóng cao khi nó đổ vào bờ biển?
Không, ngược lại với hình ảnh nghệ thuật về sóng thần, hầu hết không tạo thành các làn sóng khổng lồ mà chúng giống như các đợt thuỷ triều nhanh và lớn.
56. Bao nhiêu phần đất liền trên trái đất là sa mạc?
Khoảng 1/3.
57.. Nơi sâu nhất trong đại dương?
Độ sâu lớn nhất là 11 km ở Rãnh Mariana, thuộc Thái Bình Dương, gần Nhật Bản.
58. Tốc độ gió cao nhất thu được từ trước đến nay?
Trước đây người ta vẫn cho rằng gió thổi nhanh nhất là 372 km/giờ ở Mounth Washington, New Hampshire vào ngày 12/4/1934. Nhưng vào tháng 5/1999 ở Oklahoma, các nhà nghiên cứu thu được vận tốc gió là 513 km/giờ. Để so sánh, gió trên sao Hải vương có tốc độ 1.448 km/giờ.
59. Có bao nhiêu lượng nước ngọt được trữ trên trái đất?
Hơn 2 triệu dặm khối nước ngọt lưu trữ trên hành tinh, nửa trong số đó nằm trong khoảng 800 m trên bề mặt trái đất.
60. Trái đất bao nhiêu tuổi?
Hành tinh của chúng ta hơn 4,5 tỷ tuổi, trẻ hơn mặt trời một ít. Bằng chứng mới đây (*)cho thấy trái đất thực ra hình thành sớm hơn rất nhiều, khoảng 10 triệu năm sau mặt trời.
(*)Trái đất già hơn chúng ta tưởng
Hệ mặt trời.
Các hành tinh thuộc phần trong thái dương hệ - gồm sao Thủy, sao Kim, trái đất, sao Hỏa - đã bắt đầu hình thành trong khoảng 10.000 năm, sau khi những cuộc bùng phát năng lượng của mặt trời khởi động vào 4,5 tỷ năm trước. Và trái đất chính thức trở thành một thiên thể khoảng 10 triệu năm sau sự ra đời của mặt trời, sớm hơn rất nhiều so với suy nghĩ trước đây.
Tác giả nghiên cứu Stein B. Jacobsen cho biết vào giai đoạn thôi nôi, mặt trời được bao phủ bởi các đám khí và gas. Đám vật chất này từ từ kết khối thành những mảng lớn dần lên. Cuối cùng, chúng hình thành nên 4 hành tinh thuộc phần trong của hệ mặt trời.
Trong vòng 10 triệu năm, trái đất đã đạt được 64% kích cỡ hiện tại của nó và là thiên thể thống trị trong vòng 150 triệu km tính từ mặt trời.
Sự kiện lớn cuối cùng trong quá trình hình thành của trái đất là sự va chạm với một thiên thể có kích thước của sao Hoả, xảy ra khoảng 30 triệu năm sau khi mặt trời ra đời. Vụ va đập dữ dội này đã bồi thêm hàng triệu tấn vật chất vào trái đất. Một số vật chất rơi vào quỹ đạo của trái đất và hình thành nên mặt trăng.
Một cuộc phân tích trước đây trên chất đồng vị của vỏ trái đất cho thấy hành tinh này đã ra đời 50 triệu năm trước, sau khi mặt trời hình thành. Nhưng Jacbosen cho biết cuộc phân tích dữ liệu (**) cũng ủng hộ giả thuyết rằng trái đất hình thành sớm hơn rất nhiều.
(**)Trái đất hình thành nhanh gấp đôi chúng ta tưởng
Hệ mặt trời hình thành sau một vụ nổ siêu tân tinh lớn.
Những tính toán mới nhất về tuổi của hệ mặt trời cho biết, trái đất được hình thành trong vòng 20-30 triệu năm sau khi hệ mặt trời ra đời. Con số này là rất khiêm tốn nếu so với các kết luận trước kia, cho rằng trái đất phải mất 50 triệu năm để có được nhân của mình.
Theo các nhà khoa học, sự thành tạo của hệ mặt trời về cơ bản diễn ra như sau: Khoảng 4,6 tỷ năm trước, một siêu tân tinh khổng lồ bùng nổ, kéo theo sự ra đời của mặt trời. Tiếp đó, một cơn sóng chấn khổng lồ đã nén ép vật chất còn lại thành những khối bụi nhỏ hơn. Cuối cùng, chúng liên kết với nhau để tạo nên thiên thạch, sao chổi, mặt trăng và các hành tinh khác trong hệ mặt trời như ngày nay. Tuy nhiên, không dễ gì để tính được thời điểm diễn ra vụ nổ và tốc độ của nó.
Những bằng chứng địa chất trước kia cho rằng nhân trái đất ra đời khoảng 50 triệu năm sau vụ nổ. Bằng chứng địa chất mà các nhà nghiên cứu sử dụng là hai đồng vị hafini 128 và vonfram 128. Cả hai nguyên tố này rất phong phú tại thời điểm hệ mặt trời sinh ra, và dấu vết của chúng vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Hafini 128 có chu kỳ bán rã 9 triệu năm. Sau khi phân rã, nó chuyển thành vonfram 128. Do tính ưa kim loại, nên tất cả các vonfram 128 được sinh ra đều co cụm về nhân của các hành tinh (như trái đất và sao Hỏa). Vì vậy, các nhà nghiên cứu nhận định, bất cứ nguyên tử vonfram 128 nào được tìm thấy trong lớp manti của trái đất và sao Hỏa ngày nay đều là sản phẩm trực tiếp của hafini 128. Nếu biết được thời gian phân rã của các nguyên tố này, chúng ta có thể tìm ra tuổi của lớp đá.
Tuy nhiên, con số 50 triệu năm dường như chưa chính xác. Mới đây, Thorsten Klein từ Đại học Muenster (Đức) và cộng sự đã phân tích lại tỷ lệ hafini 128/vonfram 128 trên một loạt các mẩu đá sao Hỏa và các mẩu thiên thạch khác. Sau đó, họ so sánh với tỷ lệ trong các mẫu ở lớp manti của trái đất. Kết quả của phân tích này đã rút ngắn khoảng thời gian hình thành nhân trái đất xuống còn 20 đến 30 triệu năm.
Kleine kết luận: “Sự tạo thành nhân, và từ đó vật chất phủ thêm bên ngoài để tạo nên các hành tinh rắn, đã kết thúc trong 30 triệu năm đầu tiên của hệ mặt trời. Riêng nhân sao Hỏa có lẽ đã hình thành trong khoảng 13 triệu năm”. Một cách độc lập, nhóm nghiên cứu của Quingzhu tại Đại học Harvard (Mỹ) cũng cho ra kết quả gần như trùng khớp.
Các nhà nghiên cứu cho biết, việc loại bỏ được những nghi ngờ về thời điểm và diễn biến sự thành tạo các hành tinh sẽ cho phép họ tập trung sang những vấn đề khác, liên quan tới sự ra đời của trái đất, chẳng hạn sự kiện mặt trăng chia tay với hành tinh chúng ta.
61. Sa mạc lớn nhất thế giới?
Sa mạc Sahara ở bắc Phi rộng gấp 23 lần sa mạc Mojave ở phía nam California, Mỹ.
62. Hành tinh nào có nhiều mặt trăng hơn, trái đất hay sao Hoả?
Sao Hoả có 2 vệ tinh xoay quanh là Phobos và Deimos. Trái đất chỉ có một vệ tinh tự nhiên là mặt trăng. Những hành tinh ở vòng ngoài thường có nhiều mặt trăng, hầu hết mới được tìm thấy gần đây và có thể dẫn tới trường hợp các nhà khoa học cần phải định nghĩa lại thế nào là mặt trăng.
63. Hồ sâu nhất thế giới?
Hồ Baikal ở miền trung nam Siberia có độ sâu 1,7 km. Hồ có niên đại 20 triệu năm và chứa 20% lượng nước ngọt trên trái đất.
64. Nguồn gốc từ "volcano" (núi lửa)?
Nó bắt nguồn từ "Vulcan" - vị thần lửa của La Mã.
65. Có bao nhiêu khoáng chất tồn tại trên trái đất được biết tới?
Có khoảng 4.000 khoáng chất, trong đó chỉ khoảng 200 là có tầm quan trọng lớn. Chừng 50-100 khoáng chất mới được miêu tả mỗi năm.
66. Lượng nước dự trữ trên toàn cầu?
Tổng lượng nước dự trữ trên toàn cầu là 326 triệu dặm khối.
67. Đảo lớn nhất thế giới?
Đảo Greenland bao phủ diện tích 2.176.000 km2. Lục địa được định nghĩa là những khối đất lớn được tạo nên từ đá có mật độ thấp, trôi nổi trên vật liệu tan chảy bên dưới. Greenland khớp với miêu tả này nhưng nó chỉ bằng 1/3 Australia. Một số nhà khoa học gọi Greenland là hòn đảo, một số lại gọi là lục địa.
68. Nơi nào trên trái đất có nhiều núi lửa nhất?
Đặc điểm địa hình nổi bật nhất trên trái đất là dãy núi lửa khổng lồ ở dưới biển - dãy núi dài hơn 48.000 km và cao trung bình 5,5 km trên đáy biển. Nó được gọi là dãy ngăn cách đại dương, nơi các mảnh thạch quyển bị phân tách khi hoạt động núi lửa diễn ra. Có nhiều núi lửa ở khu vực này hơn là trên mặt đất.
69. Vụ phun trào núi lửa nào tiêu diệt nhiều người nhất?
Đợt phun trào của núi Tambora ở Indonesia vào năm 1815 đã giết chết 90.000 người. Hầu hết chết vì đói sau vụ phun trào bởi mùa màng bị phá huỷ, nước bị ô nhiễm và bệnh tật.
70. Mặt trăng và trái đất sinh ra riêng rẽ?
Không hẳn là như vậy. Một giả thuyết cho rằng mặt trăng được hình thành từ một phần của trái đất, không lâu sau khi hành tinh của chúng ta ra đời. Một thiên thể có cỡ sao Hoả đã đâm sầm vào hành tinh của chúng ta và vỡ tan. Những mảnh vụn bay theo quỹ đạo quanh trái đất, phần lớn tích tụ lại tạo nên mặt trăng, trong khi đó trái đất hầu như không suy suyển.
71. Mỗi giây trên toàn cầu có bao nhiêu lần sét đánh?
Trung bình khoảng 100. Tuy vậy đó chỉ là những lần sét đánh xuống mặt đất. Mỗi phút, có hơn một nghìn trận sấm chớp nổ ra khắp trái đất, tạo ra khoảng 6.000 tia chớp. Rất nhiều trong số đó đi từ đám mây này sang đám mây khác.
72. Tất cả các con sông đều sống?
Tất nhiên là không phải theo nghĩa đen. Nhưng cũng như mọi sinh vật sống khác, các con sông đều có quãng đời của nó. Chúng sinh ra, lớn lên và già đi. Chúng có thể chết trong khoảng thời gian địa chất.
73. Các thiên thạch có thể tạo nên hòn đảo?
Hàng thập kỷ nay người ta đã phỏng đoán rằng những vụ va cham thiên thạch từ xa xưa đã tạo nên các điểm nóng nơi xảy ra hoạt động núi lửa, và đẩy các hòn núi lên khỏi mặt biển nơi trước đây nó chưa từng xuất hiện. Chưa có một câu trả lời chắc chắn cho vấn đề này, nhưng một mô hình máy tính mới cho rằng Hawaii đã được hình thành theo cách này.
74. Bang Louisiana đang phình ra hay chìm đi?
Louisiana mất khoảng 78 km2 đất đai mỗi năm do sụt lở đất ven biển, do giông bão và các nguyên nhân khác từ con người, khiến nó đang chìm dần. Phần lớn New Orleans thực sự chìm 3,4 m dưới mực nước biển.
75. Mực nước biển sẽ tăng bao nhiêu nếu băng Nam cực tan?
Băng Nam cực chiếm gần 90% băng toàn thế giới và 70% nước ngọt toàn cầu.. Nếu toàn bộ băng Nam cực tan, mức nước biển sẽ tăng khoảng 67 m, tương đương với toà nhà 20 tầng. Các nhà khoa học biết rằng đang có một dòng tan chảy bên dưới. Tổ chức Liên Hợp Quốc ước tính theo kịch bản tồi tệ nhất thì mực nước biển sẽ tăng lên 1 m vào năm 2100.
76. Băng có phải là khoáng chất?
Đúng, băng là một loại khoáng chất và được miêu tả trong hệ thống khoáng chất của Dana.
77. Khoáng chất nào mềm nhất?
Talc là khoáng chất mềm nhất. Nó thường được dùng để làm bột talcum.
78. Khoáng chất nào cứng nhất?
Loại mà trở nên vô nghĩa về mặt tình cảm sau khi ly hôn nhưng vẫn giữ được giá trị về mặt tiền bạc (kim cương).
79. Có bao nhiêu màu trong pháo hoa?
Các thành phần hoá chất trong trái đất đã tạo nên màu sắc. Stronti tạo ra màu đỏ, đồng tạo ra màu xanh dương, natri tạo ra màu vàng, mạt sắt và bột than tạo ra màu ánh vàng. Tiếng nổ lớn và tia sáng được tạo ra từ bột nhôm.
80. Trái đất có khí hậu tồi tệ nhất trong hệ mặt trời?
Vẫn có nhiều hiện tượng khí hậu hoang tàn hơn ở nơi khác. Sao Hoả có thể hứng chịu những trận cuồng phong lớn gấp 4 lần trên trái đất. Bão bụi trên hành tinh đỏ có thể nhấn chìm toàn bộ quả cầu. Sao Thổ từng có một trận bão gió bao phủ diện tích lớn gấp đôi hành tinh chúng ta và kéo dài ít nhất 3 thế kỷ. Sao Kim là một địa ngục sống. Sao Diêm vương thường xuyên băng giá hơn nơi lạnh lẽo nhất trên trái đất.
81. Nơi đâu có thủy triều cao nhất?
Tại Burntcoat Head thuộc vịnh Fundy ở Nova Scotia (Canada), các đợt thủy triều có thể dâng cao tới 11,7 m. Vịnh Fundy có hình cái phễu do vậy mà thường xuyên tạo nên những đợt nước triều lớn.
82. Nơi duy nhất có sông băng chảy qua đường xích đạo?
Núi Cotopaxi ở Ecuador có sông băng duy nhất vắt qua đường xích đạo.
83. Hồ lớn nhất ở Bắc Mỹ?
Hồ Superior.
84. Cơn bão khủng khiếp nhất từng đổ bộ vào Mỹ?
Cơn bão cấp 4 đổ vào Galveston, Texas, năm 1900 giết chết hơn 6.000 người..
85. Dãy núi dài nhất thế giới?
Dãy Mid-Atlantic nằm dưới biển gần như chia đôi toàn bộ Đại Tây Dương từ bắc tới nam. Iceland là nơi dãy núi ngầm này nhô lên khỏi mặt biển.
86. Bao nhiêu lượng vàng đã được khai thác trên trái đất từ trước tới nay?
Hơn 193.000 tấn. Nếu gắn kết chúng lại với nhau, sẽ tạo ra một tòa nhà 7 tầng hình lập phương
87. Hai quốc gia sản xuất vàng lớn nhất?
Nam Phi sản xuất 5.300 tấn/năm. Mỹ xuất xưởng 3.200 tấn/năm.
88. Loài thực vật ở Bắc Mỹ có tuổi thọ hàng nghìn năm?
Cây bụi creosote mọc tại Mojave, Sonoran và sa mạc Chihuahuan đã sống từ thời khai sinh của chúa Jesus. Một số cây có thể sống tới 10.000 năm.
89. Trung bình bao nhiêu lượng nước được tiêu thụ trên toàn cầu mỗi ngày?
Khoảng 1,5 tỷ mét khối.
90. Sao Thổ là hành tinh duy nhất có vành đai bao quanh?
Sao Thổ là có vành đai rõ nhất. Nhưng sao Mộc và sao Hải vương đều có vành đai mờ nhạt.
91. Động đất thường xảy ra ở độ sâu bao nhiêu?
Hầu hết rung chuyển khoảng 80 km dưới bề mặt trái đất. Những trận nông hơn thì có thiệt hại lớn hơn. Nhưng sức phá huỷ của mỗi cơn rung chấn còn phụ thuộc vào kết cấu đất đá và thiết kế công trình.
92. Lục địa lạnh nhất, khô nhất và cao nhất trên trái đất?
Chính là Nam cực..
93. Những hòn đá cao tuổi nhất thế giới được tìm thấy ở đâu?
Do đáy đại dương thường xuyên bị biến đổi khi các mảnh thạch quyển di chuyển trên bề mặt trái đất, những hòn đá lâu đời nhất được tìm thấy dưới đáy biển là vào khoảng 300 triệu năm trước. Còn đá trên lục địa cổ xưa nhất có 4,5 tỷ tuổi.
94. Bao nhiêu lượng nước ngọt trên thế giới được lưu trữ trong băng?
Khoảng 70%. Để có được lượng nước này cần mưa rơi liên tục 60 năm trên toàn cầu và phải tìm cách đóng băng được tất cả lượng đó.
95. Hồ trên núi lớn nhất ở Bắc Mỹ?
Hồ Tahoe ở biên giới California-Nevada rộng 42.500 ha, chứa 0,1 tỷ m3 nước và sâu 488 m.
96. Có phải lúc nào cũng tồn tại các lục địa?
Không giống như chúng ta thấy bây giờ. Nhiều nhà khoa học cho rằng trái đất từng là một lục địa khổng lồ khô cằn, nước được đưa đến từ các sao chổi và đại dương hình thành. Sau đó tất cả đất đai trên thế giới tập hợp thành một siêu lục địa gọi là Pangaea. Nó bắt đầu phân tách từ 225 triệu năm trước đây, cuối cùng phân thành các mảng lục địa như chúng ta thấy ngày nay.
97. Bao nhiêu tro bụi núi lửa rơi xuống mỗi ngày?
Lấy một ví dụ. Trong đợt phun trào dữ dội kéo dài 9 giờ ở núi St. Helens ngày 18/5/1980, hơn 540 triệu tấn tro đã trút xuống bao phủ một diện tích rộng 56.980 km2. Đó là đợt phun trào núi lửa kinh hoàng nhất từng xảy ra tại Mỹ.
98. Fenspat là gì?
Đó là loại khoáng chất phổ biến nhất trong lớp vỏ cứng của trái đất.
99. Những điểm tận cùng của nước Mỹ?
Điểm xa nhất về phía đông là đảo Amatignak, Alaska. Điểm xa nhất về phía bắc là Point Barrow, Alaska. Điểm xa nhất về phía nam là mũi phía nam của đảo Hawaii. Điểm xa nhất về phía tây là Pochnoi Point ở Semisopochnoi, Alaska.
100. Nếu bạn được sắp xếp trái đất, mặt trăng và sao Hoả giống như búp bê Matryoshka, thì bạn sẽ xếp thế nào?
Sao Hoả sẽ lọt vào trong trái đất, và mặt trăng sẽ nằm gọn trong sao Hoả. Trái đất to gấp đôi sao Hoả và sao Hoả cũng gần như gấp đôi mặt trăng.
101. Trái đất sẽ luôn ở đó?
Các nhà thiên văn học đã biết rằng trong vài tỷ năm nữa, mặt trời sẽ phồng to đến nỗi "nuối chửng" trái đất. Nếu chúng ta vẫn còn ở đó thì chắc sẽ bị thiêu trụi và bốc hơi. Nếu có cơ hội thì chúng ta có thể "đẩy" trái đất sang một quỹ đạo khác xa hơn và yên bình hơn ( Hết. )
GH67-Post
Chúng ta đang sống trên một quả cầu đầy những điều kỳ quặc và độc đáo. Thực chất nó không phải hình cầu mà là một hành tinh hoang dại, lổn nhổn những ngọn núi lửa lụi tàn, rung chuyển bởi các trận động đất kinh hoàng, ngập chìm trong những cơn đại hồng thuỷ. Nhưng đâu mới là điều tồi tệ nhất?
Một số thung lũng của trái đất chìm sâu dưới biển. Nhiều ngọn núi lại vươn chồi lên trên lớp không khí mỏng. Bạn có thể nêu tên điểm thấp nhất trên trái đất? Đỉnh cao nhất? Bạn có biết đường vào trung tâm trái đất là bao xa và có gì ở đó? Nơi nóng nhất, lạnh nhất, khô nhất, lộng gió nhất là ở đâu?
1. Nơi nào nóng nhất trên trái đất?
Nếu bạn đoán là Thung lũng chết ở California, Mỹ, thì bạn hoàn toàn sai. El Azizia ở Libya đã đạt được nhiệt độ kỷ lục 57,8 độ C vào 13/9/1922. Thung lũng chết chỉ đạt 56,6 độ C vào 10/7/1913.
2. Nơi lạnh nhất trên thế giới?
Ở rất xa, nhiệt độ thấp nhất từng đo được trên trái đất là -89 độ C ở Vostok, Nam Cực, vào ngày 21/7/1983.
3. Cái gì tạo nên sấm sét?
Nếu bạn đoán rằng "tia chớp" thì cũng xin bái phục. Nhưng có một câu trả lời sáng tỏ hơn. Không khí xung quanh tia chớp bị hâm nóng lên gấp 5 lần nhiệt độ của mặt trời. Sự hâm nóng đột ngột này khiến không khí nở ra nhanh hơn tốc độ của âm thanh, làm cho không khí xung quanh bị nén lại và tạo nên shock wave, chúng ta nghe thấy như tiếng sấm.
4. Đá có thể nổi trên nước?
Trong những đợt phun trào núi lửa, lớp khí bị bắn ra mạnh mẽ từ dung nham tạo nên một loại đá sủi bọt gọi là đá bọt, chứa đầy các bong bóng khí. Một số hòn đá này có thể nổi trên mặt nước.
5. Đá có thể to lên không?
Có, nhưng theo dõi quá trình này thì còn chán hơn là xem sơn khô. Những hòn đá này (iron-manganese crusts) lớn lên trên các ngọn núi ở dưới biển. Chúng kết tủa chậm rãi vật chất từ nước biển, to lên khoảng 1 mm trong 1 triệu năm. Móng tay của bạn cũng mọc lên từng đó trong 2 tuần.
6. Bao nhiêu lượng bụi từ không trung rơi xuống trái đất mỗi năm?
Con số này vô định, nhưng USGS cho rằng có ít nhất 1.000 triệu gram, tức là khoảng 1.000 tấn vật chất rơi vào bầu khí quyển mỗi năm và hạ cánh xuống bề mặt trái đất.
7. Bụi có thể bay bao xa trong gió?
Một nghiên cứu vào năm 1999 cho biết bụi từ châu Phi đã tìm đường tới Florida và khiến nhiều nơi ở bang này vượt giới hạn chất lượng không khí cho phép do Uỷ ban bảo vệ môi trường Mỹ quy định. Số bụi đó được những cơn gió lớn ở Bắc Phi đón đường và đưa lên cao 6.100 m, nơi đó bụi lại gặp gió mậu dịch và được đưa qua biển. Bụi từ Trung Quốc cũng đã vượt đại dương tìm sang Bắc Mỹ.
8. Thác nước cao nhất thế giới ở đâu?
Thác Thiên thần (Angel Falls) ở Venezuela, chảy từ độ cao 979 m.
9. Hai thành phố lớn nào của Mỹ sẽ bị nhập vào nhau?
Khe nứt San Andreas chạy theo hướng bắc nam đang phân tách với tốc độ 5 cm/năm, khiến cho Los Angeles tiến gần về San Francisco. Ước đoán Los Angeles sẽ trở thành khu vực ngoại ô của thành phố bên Vịnh trong 15 triệu năm nữa.
10. Trái đất có phải hình cầu?
Do hành tinh của chúng ta xoay tròn và linh hoạt hơn bạn có thể tưởng tượng, nó phình ra ở phần giữa, tạo nên hình giống như quả bí ngô. Chỗ phình ra này đang giảm dần qua hàng thế kỷ, nhưng nay bỗng nhiên nó lại phát triển. Chính sự băng tan ngày càng nhiều trên trái đất chính là nguyên nhân khiến vành xích đạo nở ra.
11.Trọng lực trên sao Hỏa bằng 38% trọng lực trái đất, tính ở mực nước biển.
Vì thế, một người nặng 100 kg trên trái đất sẽ nặng 38 kg trên sao Hoả. Tuy vậy, theo những kế hoạch hiện thời của NASA thì phải mất hàng thập kỷ nữa con số này mới được kiểm chứng.
12. Một năm trên sao Hỏa dài bao nhiêu?
Nó đúng bằng một năm, nếu bạn đến từ sao Hỏa. Nhưng đối với người trái đất, nó gần như dài gấp đôi. Hành tinh đỏ mất 687 ngày để quay quanh mặt trời, so với 365 ngày của trái đất.
13. Một ngày trung bình trên sao Hỏa dài bao nhiêu?
Người sao Hỏa có thể ngủ (hoặc làm việc) nhiều hơn nửa tiếng mỗi ngày so với bạn.. Một ngày trên sao Hỏa dài 24 giờ 37 phút, so với 23 giờ 56 phút trên trái đất. Một ngày trên bất cứ hành tinh nào thuộc hệ mặt trời được tính bằng thời gian nó tự xoay tròn đúng một vòng trên trục, tức là làm cho mặt trời nhô lên vào buổi sáng và lặn xuống vào buổi tối.
14. Núi lửa nào lớn nhất?
Núi Mauna Loa ở Hawaii chiếm danh hiệu này trên trái đất. Nó cao 15,2 km tính từ chân núi nằm ở dưới đáy biển. Nhưng ngọn núi Olympus Mons trên sao Hoả còn vĩ đại hơn - nó xuyên thủng bầu trời hành tinh đỏ với độ cao 26 km. Nền móng của ngọn núi này có thể bao phủ hầu như toàn bộ bang Arizona, Mỹ.
15. Trận động đất gây thiệt mạng nhiều nhất từ trước tới nay?
Kỷ lục về trận động đất thần chết xảy ra vào năm 1557 ở Trung Quốc. Nó giáng xuống khu vực nơi người dân chủ yếu sống trong những hang động bằng đá. Dãy đá sụp đổ, giết chết khoảng 830.000 người. Một trận địa chấn kinh hoàng khác cũng đổ xuống Đường Sơn, Trung Quốc vào năm 1976. Hơn 250.000 người thiệt mạng.
16. Trận động đất mạnh nhất trong giai đoạn gần đây?
Trận động đất xảy ở ngoài biển Chile vào năm 1960 có cường độ 9,6 richter và gây ra vết nứt dài 1.600 km. Một trận động đất như vậy xảy ra tại một thành phố lớn có thể làm tan tành những công trình có kỹ thuật xây dựng hiện đại nhất.
17. Trận động đất nào kinh hoàng hơn: Kobe (Nhật Bản) hay Northridge, California (Mỹ)?
Trận động đất ở Northridge vào năm 1994 mạnh 6,7 độ richter và làm 60 người chết, 6.000 người bị thương, thiệt hại hơn 40 tỷ USD.
Trận động đất ở Kobe vào năm 1995 có cường độ 6,7 richter và giết chết 5.530 người. Khoảng 37.000 người bị thương và nền kinh tế thất thoát 100 tỷ USD.
18. Khoảng cách tới trung tâm trái đất là bao xa?
Khoảng cách từ bề mặt trái đất tới trung tâm là gần 5.955 km. Hầu hết thành phần trái đất là chất lỏng. Chỗ vỏ rắn nhất của hành tinh chỉ dày khoảng 66 km - mỏng hơn vỏ của một quả táo, tính theo tỷ lệ tương đương.
19. Ngọn núi cao nhất thế giới?
Núi Everest ở Nepal cao gần 9 km trên mực nước biển.
20. Mặt trăng đã bao giờ gần hơn thế này chưa?
Nó đã từng gần hơn rất nhiều. Một tỷ năm trước đây, mặt trăng nằm trong một quỹ đạo nhỏ hơn, chỉ mất khoảng 20 ngày để quay quanh chúng ta. Một ngày trên trái đất hồi đó dài 18 tiếng. Hiện mặt trăng vẫn tiến ra xa, khoảng 4 cm/năm. Trong khi đó vòng quay của trái đất lại chậm lại, khiến cho ngày kéo dài ra. Trong tương lai xa, một ngày trên trái đất sẽ dài 960 tiếng!
21. Điểm cạn thấp nhất trên trái đất?
Bờ biển Chết ở Trung Đông thấp 400 m dưới mặt biển. Vị trí thứ 2 là Bad Water ở Thung lũng Chết, California, ở vị trí 86 m dưới mặt biển.
22. California đang chìm dần?
Thực tế là một số phần của bang này đang bị như vậy. Sự xê dịch lên xuống của một số hồ nước tự nhiên ở dưới mặt đất đang khiến cho California lún xuống 11cm/năm. Các hệ thống nước và cống ngầm có thể bị đe doạ.
23. Con sông dài nhất?
Sông Nile ở châu Phi dài 6.695 km.
24. Bang chịu nhiều động đất nhất ở Mỹ?
Alaska thường xuyên phải chịu một trận động đất mạnh 7 độ richter mỗi năm, và một cơn động đất mạnh hơn 8 độ richter trung bình sau 14 năm. Florida và North Dakota chịu ít động đất nhất ở Mỹ.
25. Nơi khô hạn nhất trên thế giới?
Vùng Arica ở Chile chỉ có 0,76 mm lượng mưa mỗi năm. Với lượng đó cần mất một thế kỷ để hứng đủ một tách cà phê.
26. Cái gì gây ra sụt lở đất?
Lượng mưa dồn dập trong một giai đoạn ngắn có thể gây ra các dòng chảy bùn và rác thải với tốc độ cao. Lượng mưa dầm dề kéo dài trong một thời gian dài lại tạo ra những vụ lở đất lớn từ từ. Mỗi năm, nước Mỹ thiệt hại 2 tỷ USD do sụt lở đất. Trong một trận bão kỷ lục ở San Francisco vào tháng 1/1982, khoảng 18.000 dòng chảy rác thải hình thành trong một đêm. Thiệt hại tài sản lên tới 66 triệu USD cùng 25 người chết.
27. Bùn chảy với tốc độ bao nhiêu?
Những dòng chảy như thác bùn có thể di chuyển với tốc độ 160 km/giờ.
28. Vật chất trong lòng trái đất cũng chảy?
Bạn đoán đúng rồi đấy. Năm 1999, các nhà khoa học tìm thấy vật liệu tan chảy trong lõi trái đất chảy theo các dòng xoáy mà sức mạnh của nó tương tự như bão lốc.
29. Nơi ẩm ướt nhất trên trái đất?
Lloro, Colombia có lượng mưa trung bình hàng năm là hơn 13 m, gấp 10 lần những thành phố ẩm nhất ở châu Âu hoặc Mỹ.
30. Trái đất có chuyển qua các thời kỳ khác nhau như mặt trăng?
Từ sao Hoả, có thể nhìn thấy trái đất chuyển qua các giai đoạn khác nhau (cũng như chúng ta nhìn thấy sao Kim thay đổi). Trái đất nằm trong quỹ đạo của sao Hoả và khi 2 hành tinh cùng di chuyển qua mặt trời, ánh sáng mặt trời chiếu xuống hành tinh của chúng ta theo một góc khác.
31. Hẻm núi lớn nhất sao Hỏa?
Grand Canyon được coi là hệ thống hẻm núi lớn nhất thế giới, dài 446 km.
Nhưng hẻm núi Valles Marineris trên sao Hoả còn dài tới 4.800 km. Nếu đặt trên bản đồ nước Mỹ, nó sẽ kéo dài từ New York tới Los Angeles. Vết sẹo khổng lồ trên bề mặt hành tinh đỏ này sâu tới 8 km.
32. Hẻm núi sâu nhất ở Mỹ?
Hẻm núi Hells dọc theo biên giới Oregon - Idaho sâu hơn 2,4 km. Trong khi đó, Grand Canyon sâu không quá 2 km.
33. Trái đất có phải là hành tinh đá lớn nhất trong hệ mặt trời?
Hoàn toàn đúng như vậy. Đường kính trái đất tại đường xích đạo là 12.756 km. Sao Kim là 12.104 km. Sao Hoả và sao Thuỷ nhỏ hơn rất nhiều. Sao Diêm Vương cũng là hành tinh đá nhưng quá nhỏ.
34. Có bao nhiêu núi lửa từng hoạt động trên trái đất?
Có khoảng 540 núi lửa trên mặt đất từng phun trào. Không ai biết rõ có bao nhiêu núi lửa ở dưới biển đã hoạt động từ trước tới nay.
35. Không khí bao gồm chủ yếu là ôxy?
Bầu khí quyển của trái đất chiếm 80% là nitơ. Phần còn lại chủ yếu là ôxy, với một lượng rất nhỏ các tạp chất khác.
36. Thác nước cao nhất ở Mỹ?
Thác Yosemite ở California cao 739 m.
37. Bao nhiêu phần trăm lượng nước trên thế giới nằm ở đại dương?
Khoảng 97%. Đại dương chiếm 2/3 bề mặt trái đất, điều đó có nghĩa là nếu có một thiên thạch va vào trái đất thì nó sẽ bắn tung toé.
38. Vùng đất nào chứa lượng nước ngọt lớn nhất trên thế giới?
Gần 70% lượng nước ngọt trên trái đất nằm trong các tảng băng ở Nam cực và Greenland. Số còn lại nằm trong bầu khí quyển, sông suối, mạch nước ngầm và chiếm chỉ khoảng 1%.
39. Đại dương lớn nhất trên trái đất?
Thái Bình Dương bao phủ một diện tích rộng 165 triệu km2, lớn hơn gấp 2 lần Đại Tây Dương. Nó có độ sâu trung bình là 3,9 km.
40. Tại sao trái đất lại hầu như không có miệng hố, trong khi mặt trăng lại lỗ chỗ?
Trái đất hoạt động tích cực hơn về mặt địa lý và thời tiết. Một số miệng hố vài triệu tuổi đã được bao phủ bởi thực vật, biến đổi qua động đất và lở đất, cùng với những hiện tượng mưa gió. Trong khi đó mặt trăng khá yên tĩnh về mặt địa lý và hầu như không có thời tiết, nên các miệng hố trên đó vẫn nguyên sơ qua hàng tỷ.
41. Vùng đất liền thấp nhất trên trái đất?
Bờ biển Chết, nằm giữa Israel và Jordan, nằm ở độ sâu 394 m dưới mực nước biển.
42. Hồ lớn nhất thế giới?
về kích cỡ và dung lượng là Caspian Sea, nằm giữa đông nam châu Âu và tây Á.
43. Nơi có nhiều động đất và phun trào núi lửa nhất trên trái đất?
Hầu hết xảy ra dọc theo ranh giới của hàng chục mảng thạch quyển khổng lồ trôi nổi trên bề mặt trái đất. Một trong những vành đĩa nơi động đất và phun trào núi lửa xảy ra nhiều nhất là quanh Thái Bình Dương, thường được gọi là Vành đai lửa Thái Bình Dương. Nó gây ra các vụ chấn động và nung nóng trải dài từ Nhật Bản tới Alaska và Nam Mỹ.
44. Bên trong trái đất nóng đến mức nào?
Nhiệt độ của trái đất tăng 20 độ C cứ sau mỗi km tiến sâu vào trong. Gần trung tâm, nhiệt độ lên tới ít nhất 3.870 độ C.
45. Ba quốc gia có số núi lửa hoạt động lớn nhất trong lịch sử?
Indonesia, Nhật Bản và Mỹ, theo thứ tự giảm dần về mức độ hoạt động.
46. Có bao nhiêu người trên thế giới đối mặt với thảm họa từ núi lửa?
Vào năm 2000, các nhà khoa học đã ước tính núi lửa sẽ gây ra thảm họa rõ rệt cho ít nhất 500 triệu người, tương đương với dân số toàn thế giới vào đầu thế kỷ 17.
47. Nguồn nào chứa lượng nước ngọt lớn nhất toàn cầu: hồ, suối hoặc nước ngầm?
Nước ngầm chứa tới 30 lần lượng nước so với tất cả các hồ nước ngọt, và gấp 3.000 lần lượng nước ở sông, suối trên toàn cầu. Nước ngầm được chứa trong các tầng ngậm nước tự nhiên ở dưới mặt đất.
48. Vụ động đất nào lớn hơn, năm 1906 ở San Francisco hay 1964 ở Anchorage, Alaska?
Trận động đất ở Anchorage mạnh 9,2 độ richter, trong khi cơn địa chấn ở San Francisco có cường độ 7,8 richter.
49. Vụ động đất nào kinh hoàng hơn về số người thiệt mạng và tài sản: động đất năm 1906 ở San Francisco hay 1964 ở Anchorage?
Trận động đất ở San Francisco đứng đầu. Nó gây ra 700 cái chết so với 114 của trận động đất ở Anchorage. Thiệt hại về tài sản ở San Francisco cũng lớn hơn, do hoả hoạn đã phá huỷ hầu hết các công trình bằng gỗ thời đó.
50. Có phải nhân trái đất là rắn?
Phần bên trong nhân trái đất được coi là rắn. Nhưng phần bên ngoài của nhân lại tan chảy. Các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra được hợp chất chính xác của nó.
51. Có phải toàn bộ trái đất xoay tròn theo một tốc độ?
Phần lõi rắn bên trong - lượng sắt khổng lồ tương đương với kích cỡ của mặt trăng - xoay nhanh hơn phần bên ngoài của lõi sắt là chất lỏng.
52. Có bao nhiêu người chết vì núi lửa trong 500 năm qua?
Ít nhất là 300.000 người. Từ năm 1980 đến 1990, núi lửa đã làm thiệt mạng ít nhất 26.000 người.
53. Bao nhiêu bề mặt trái đất gồm đá núi lửa?
Các nhà khoa học ước tính hơn 3/4 bề mặt trái đất là đá núi lửa - đá phun trào từ núi lửa hay đá tan chảy dưới bề mặt trái đất.
54. Động đất có thể gây ra sóng thần?
Đúng, nếu trận động đất bắt nguồn từ dưới đáy biển. Gần tâm chấn, đáy biển dâng lên hạ xuống, đẩy nước lên xuống. Nhịp điệu này tạo ra làn sóng toả ra mọi hướng. Một cơn sóng thần có thể rất to nhưng khá thấp ở dưới nước sâu. Khi gần đến bờ nó vọt lên và có thể đạt tới chiều cao của các toà nhà cao tầng. Thiên thạch cũng có thể gây ra sóng thần.
55. Có phải sóng thần đều là những đợt sóng cao khi nó đổ vào bờ biển?
Không, ngược lại với hình ảnh nghệ thuật về sóng thần, hầu hết không tạo thành các làn sóng khổng lồ mà chúng giống như các đợt thuỷ triều nhanh và lớn.
56. Bao nhiêu phần đất liền trên trái đất là sa mạc?
Khoảng 1/3.
57.. Nơi sâu nhất trong đại dương?
Độ sâu lớn nhất là 11 km ở Rãnh Mariana, thuộc Thái Bình Dương, gần Nhật Bản.
58. Tốc độ gió cao nhất thu được từ trước đến nay?
Trước đây người ta vẫn cho rằng gió thổi nhanh nhất là 372 km/giờ ở Mounth Washington, New Hampshire vào ngày 12/4/1934. Nhưng vào tháng 5/1999 ở Oklahoma, các nhà nghiên cứu thu được vận tốc gió là 513 km/giờ. Để so sánh, gió trên sao Hải vương có tốc độ 1.448 km/giờ.
59. Có bao nhiêu lượng nước ngọt được trữ trên trái đất?
Hơn 2 triệu dặm khối nước ngọt lưu trữ trên hành tinh, nửa trong số đó nằm trong khoảng 800 m trên bề mặt trái đất.
60. Trái đất bao nhiêu tuổi?
Hành tinh của chúng ta hơn 4,5 tỷ tuổi, trẻ hơn mặt trời một ít. Bằng chứng mới đây (*)cho thấy trái đất thực ra hình thành sớm hơn rất nhiều, khoảng 10 triệu năm sau mặt trời.
(*)Trái đất già hơn chúng ta tưởng
Hệ mặt trời.
Các hành tinh thuộc phần trong thái dương hệ - gồm sao Thủy, sao Kim, trái đất, sao Hỏa - đã bắt đầu hình thành trong khoảng 10.000 năm, sau khi những cuộc bùng phát năng lượng của mặt trời khởi động vào 4,5 tỷ năm trước. Và trái đất chính thức trở thành một thiên thể khoảng 10 triệu năm sau sự ra đời của mặt trời, sớm hơn rất nhiều so với suy nghĩ trước đây.
Tác giả nghiên cứu Stein B. Jacobsen cho biết vào giai đoạn thôi nôi, mặt trời được bao phủ bởi các đám khí và gas. Đám vật chất này từ từ kết khối thành những mảng lớn dần lên. Cuối cùng, chúng hình thành nên 4 hành tinh thuộc phần trong của hệ mặt trời.
Trong vòng 10 triệu năm, trái đất đã đạt được 64% kích cỡ hiện tại của nó và là thiên thể thống trị trong vòng 150 triệu km tính từ mặt trời.
Sự kiện lớn cuối cùng trong quá trình hình thành của trái đất là sự va chạm với một thiên thể có kích thước của sao Hoả, xảy ra khoảng 30 triệu năm sau khi mặt trời ra đời. Vụ va đập dữ dội này đã bồi thêm hàng triệu tấn vật chất vào trái đất. Một số vật chất rơi vào quỹ đạo của trái đất và hình thành nên mặt trăng.
Một cuộc phân tích trước đây trên chất đồng vị của vỏ trái đất cho thấy hành tinh này đã ra đời 50 triệu năm trước, sau khi mặt trời hình thành. Nhưng Jacbosen cho biết cuộc phân tích dữ liệu (**) cũng ủng hộ giả thuyết rằng trái đất hình thành sớm hơn rất nhiều.
(**)Trái đất hình thành nhanh gấp đôi chúng ta tưởng
Hệ mặt trời hình thành sau một vụ nổ siêu tân tinh lớn.
Những tính toán mới nhất về tuổi của hệ mặt trời cho biết, trái đất được hình thành trong vòng 20-30 triệu năm sau khi hệ mặt trời ra đời. Con số này là rất khiêm tốn nếu so với các kết luận trước kia, cho rằng trái đất phải mất 50 triệu năm để có được nhân của mình.
Theo các nhà khoa học, sự thành tạo của hệ mặt trời về cơ bản diễn ra như sau: Khoảng 4,6 tỷ năm trước, một siêu tân tinh khổng lồ bùng nổ, kéo theo sự ra đời của mặt trời. Tiếp đó, một cơn sóng chấn khổng lồ đã nén ép vật chất còn lại thành những khối bụi nhỏ hơn. Cuối cùng, chúng liên kết với nhau để tạo nên thiên thạch, sao chổi, mặt trăng và các hành tinh khác trong hệ mặt trời như ngày nay. Tuy nhiên, không dễ gì để tính được thời điểm diễn ra vụ nổ và tốc độ của nó.
Những bằng chứng địa chất trước kia cho rằng nhân trái đất ra đời khoảng 50 triệu năm sau vụ nổ. Bằng chứng địa chất mà các nhà nghiên cứu sử dụng là hai đồng vị hafini 128 và vonfram 128. Cả hai nguyên tố này rất phong phú tại thời điểm hệ mặt trời sinh ra, và dấu vết của chúng vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Hafini 128 có chu kỳ bán rã 9 triệu năm. Sau khi phân rã, nó chuyển thành vonfram 128. Do tính ưa kim loại, nên tất cả các vonfram 128 được sinh ra đều co cụm về nhân của các hành tinh (như trái đất và sao Hỏa). Vì vậy, các nhà nghiên cứu nhận định, bất cứ nguyên tử vonfram 128 nào được tìm thấy trong lớp manti của trái đất và sao Hỏa ngày nay đều là sản phẩm trực tiếp của hafini 128. Nếu biết được thời gian phân rã của các nguyên tố này, chúng ta có thể tìm ra tuổi của lớp đá.
Tuy nhiên, con số 50 triệu năm dường như chưa chính xác. Mới đây, Thorsten Klein từ Đại học Muenster (Đức) và cộng sự đã phân tích lại tỷ lệ hafini 128/vonfram 128 trên một loạt các mẩu đá sao Hỏa và các mẩu thiên thạch khác. Sau đó, họ so sánh với tỷ lệ trong các mẫu ở lớp manti của trái đất. Kết quả của phân tích này đã rút ngắn khoảng thời gian hình thành nhân trái đất xuống còn 20 đến 30 triệu năm.
Kleine kết luận: “Sự tạo thành nhân, và từ đó vật chất phủ thêm bên ngoài để tạo nên các hành tinh rắn, đã kết thúc trong 30 triệu năm đầu tiên của hệ mặt trời. Riêng nhân sao Hỏa có lẽ đã hình thành trong khoảng 13 triệu năm”. Một cách độc lập, nhóm nghiên cứu của Quingzhu tại Đại học Harvard (Mỹ) cũng cho ra kết quả gần như trùng khớp.
Các nhà nghiên cứu cho biết, việc loại bỏ được những nghi ngờ về thời điểm và diễn biến sự thành tạo các hành tinh sẽ cho phép họ tập trung sang những vấn đề khác, liên quan tới sự ra đời của trái đất, chẳng hạn sự kiện mặt trăng chia tay với hành tinh chúng ta.
61. Sa mạc lớn nhất thế giới?
Sa mạc Sahara ở bắc Phi rộng gấp 23 lần sa mạc Mojave ở phía nam California, Mỹ.
62. Hành tinh nào có nhiều mặt trăng hơn, trái đất hay sao Hoả?
Sao Hoả có 2 vệ tinh xoay quanh là Phobos và Deimos. Trái đất chỉ có một vệ tinh tự nhiên là mặt trăng. Những hành tinh ở vòng ngoài thường có nhiều mặt trăng, hầu hết mới được tìm thấy gần đây và có thể dẫn tới trường hợp các nhà khoa học cần phải định nghĩa lại thế nào là mặt trăng.
63. Hồ sâu nhất thế giới?
Hồ Baikal ở miền trung nam Siberia có độ sâu 1,7 km. Hồ có niên đại 20 triệu năm và chứa 20% lượng nước ngọt trên trái đất.
64. Nguồn gốc từ "volcano" (núi lửa)?
Nó bắt nguồn từ "Vulcan" - vị thần lửa của La Mã.
65. Có bao nhiêu khoáng chất tồn tại trên trái đất được biết tới?
Có khoảng 4.000 khoáng chất, trong đó chỉ khoảng 200 là có tầm quan trọng lớn. Chừng 50-100 khoáng chất mới được miêu tả mỗi năm.
66. Lượng nước dự trữ trên toàn cầu?
Tổng lượng nước dự trữ trên toàn cầu là 326 triệu dặm khối.
67. Đảo lớn nhất thế giới?
Đảo Greenland bao phủ diện tích 2.176.000 km2. Lục địa được định nghĩa là những khối đất lớn được tạo nên từ đá có mật độ thấp, trôi nổi trên vật liệu tan chảy bên dưới. Greenland khớp với miêu tả này nhưng nó chỉ bằng 1/3 Australia. Một số nhà khoa học gọi Greenland là hòn đảo, một số lại gọi là lục địa.
68. Nơi nào trên trái đất có nhiều núi lửa nhất?
Đặc điểm địa hình nổi bật nhất trên trái đất là dãy núi lửa khổng lồ ở dưới biển - dãy núi dài hơn 48.000 km và cao trung bình 5,5 km trên đáy biển. Nó được gọi là dãy ngăn cách đại dương, nơi các mảnh thạch quyển bị phân tách khi hoạt động núi lửa diễn ra. Có nhiều núi lửa ở khu vực này hơn là trên mặt đất.
69. Vụ phun trào núi lửa nào tiêu diệt nhiều người nhất?
Đợt phun trào của núi Tambora ở Indonesia vào năm 1815 đã giết chết 90.000 người. Hầu hết chết vì đói sau vụ phun trào bởi mùa màng bị phá huỷ, nước bị ô nhiễm và bệnh tật.
70. Mặt trăng và trái đất sinh ra riêng rẽ?
Không hẳn là như vậy. Một giả thuyết cho rằng mặt trăng được hình thành từ một phần của trái đất, không lâu sau khi hành tinh của chúng ta ra đời. Một thiên thể có cỡ sao Hoả đã đâm sầm vào hành tinh của chúng ta và vỡ tan. Những mảnh vụn bay theo quỹ đạo quanh trái đất, phần lớn tích tụ lại tạo nên mặt trăng, trong khi đó trái đất hầu như không suy suyển.
71. Mỗi giây trên toàn cầu có bao nhiêu lần sét đánh?
Trung bình khoảng 100. Tuy vậy đó chỉ là những lần sét đánh xuống mặt đất. Mỗi phút, có hơn một nghìn trận sấm chớp nổ ra khắp trái đất, tạo ra khoảng 6.000 tia chớp. Rất nhiều trong số đó đi từ đám mây này sang đám mây khác.
72. Tất cả các con sông đều sống?
Tất nhiên là không phải theo nghĩa đen. Nhưng cũng như mọi sinh vật sống khác, các con sông đều có quãng đời của nó. Chúng sinh ra, lớn lên và già đi. Chúng có thể chết trong khoảng thời gian địa chất.
73. Các thiên thạch có thể tạo nên hòn đảo?
Hàng thập kỷ nay người ta đã phỏng đoán rằng những vụ va cham thiên thạch từ xa xưa đã tạo nên các điểm nóng nơi xảy ra hoạt động núi lửa, và đẩy các hòn núi lên khỏi mặt biển nơi trước đây nó chưa từng xuất hiện. Chưa có một câu trả lời chắc chắn cho vấn đề này, nhưng một mô hình máy tính mới cho rằng Hawaii đã được hình thành theo cách này.
74. Bang Louisiana đang phình ra hay chìm đi?
Louisiana mất khoảng 78 km2 đất đai mỗi năm do sụt lở đất ven biển, do giông bão và các nguyên nhân khác từ con người, khiến nó đang chìm dần. Phần lớn New Orleans thực sự chìm 3,4 m dưới mực nước biển.
75. Mực nước biển sẽ tăng bao nhiêu nếu băng Nam cực tan?
Băng Nam cực chiếm gần 90% băng toàn thế giới và 70% nước ngọt toàn cầu.. Nếu toàn bộ băng Nam cực tan, mức nước biển sẽ tăng khoảng 67 m, tương đương với toà nhà 20 tầng. Các nhà khoa học biết rằng đang có một dòng tan chảy bên dưới. Tổ chức Liên Hợp Quốc ước tính theo kịch bản tồi tệ nhất thì mực nước biển sẽ tăng lên 1 m vào năm 2100.
76. Băng có phải là khoáng chất?
Đúng, băng là một loại khoáng chất và được miêu tả trong hệ thống khoáng chất của Dana.
77. Khoáng chất nào mềm nhất?
Talc là khoáng chất mềm nhất. Nó thường được dùng để làm bột talcum.
78. Khoáng chất nào cứng nhất?
Loại mà trở nên vô nghĩa về mặt tình cảm sau khi ly hôn nhưng vẫn giữ được giá trị về mặt tiền bạc (kim cương).
79. Có bao nhiêu màu trong pháo hoa?
Các thành phần hoá chất trong trái đất đã tạo nên màu sắc. Stronti tạo ra màu đỏ, đồng tạo ra màu xanh dương, natri tạo ra màu vàng, mạt sắt và bột than tạo ra màu ánh vàng. Tiếng nổ lớn và tia sáng được tạo ra từ bột nhôm.
80. Trái đất có khí hậu tồi tệ nhất trong hệ mặt trời?
Vẫn có nhiều hiện tượng khí hậu hoang tàn hơn ở nơi khác. Sao Hoả có thể hứng chịu những trận cuồng phong lớn gấp 4 lần trên trái đất. Bão bụi trên hành tinh đỏ có thể nhấn chìm toàn bộ quả cầu. Sao Thổ từng có một trận bão gió bao phủ diện tích lớn gấp đôi hành tinh chúng ta và kéo dài ít nhất 3 thế kỷ. Sao Kim là một địa ngục sống. Sao Diêm vương thường xuyên băng giá hơn nơi lạnh lẽo nhất trên trái đất.
81. Nơi đâu có thủy triều cao nhất?
Tại Burntcoat Head thuộc vịnh Fundy ở Nova Scotia (Canada), các đợt thủy triều có thể dâng cao tới 11,7 m. Vịnh Fundy có hình cái phễu do vậy mà thường xuyên tạo nên những đợt nước triều lớn.
82. Nơi duy nhất có sông băng chảy qua đường xích đạo?
Núi Cotopaxi ở Ecuador có sông băng duy nhất vắt qua đường xích đạo.
83. Hồ lớn nhất ở Bắc Mỹ?
Hồ Superior.
84. Cơn bão khủng khiếp nhất từng đổ bộ vào Mỹ?
Cơn bão cấp 4 đổ vào Galveston, Texas, năm 1900 giết chết hơn 6.000 người..
85. Dãy núi dài nhất thế giới?
Dãy Mid-Atlantic nằm dưới biển gần như chia đôi toàn bộ Đại Tây Dương từ bắc tới nam. Iceland là nơi dãy núi ngầm này nhô lên khỏi mặt biển.
86. Bao nhiêu lượng vàng đã được khai thác trên trái đất từ trước tới nay?
Hơn 193.000 tấn. Nếu gắn kết chúng lại với nhau, sẽ tạo ra một tòa nhà 7 tầng hình lập phương
87. Hai quốc gia sản xuất vàng lớn nhất?
Nam Phi sản xuất 5.300 tấn/năm. Mỹ xuất xưởng 3.200 tấn/năm.
88. Loài thực vật ở Bắc Mỹ có tuổi thọ hàng nghìn năm?
Cây bụi creosote mọc tại Mojave, Sonoran và sa mạc Chihuahuan đã sống từ thời khai sinh của chúa Jesus. Một số cây có thể sống tới 10.000 năm.
89. Trung bình bao nhiêu lượng nước được tiêu thụ trên toàn cầu mỗi ngày?
Khoảng 1,5 tỷ mét khối.
90. Sao Thổ là hành tinh duy nhất có vành đai bao quanh?
Sao Thổ là có vành đai rõ nhất. Nhưng sao Mộc và sao Hải vương đều có vành đai mờ nhạt.
91. Động đất thường xảy ra ở độ sâu bao nhiêu?
Hầu hết rung chuyển khoảng 80 km dưới bề mặt trái đất. Những trận nông hơn thì có thiệt hại lớn hơn. Nhưng sức phá huỷ của mỗi cơn rung chấn còn phụ thuộc vào kết cấu đất đá và thiết kế công trình.
92. Lục địa lạnh nhất, khô nhất và cao nhất trên trái đất?
Chính là Nam cực..
93. Những hòn đá cao tuổi nhất thế giới được tìm thấy ở đâu?
Do đáy đại dương thường xuyên bị biến đổi khi các mảnh thạch quyển di chuyển trên bề mặt trái đất, những hòn đá lâu đời nhất được tìm thấy dưới đáy biển là vào khoảng 300 triệu năm trước. Còn đá trên lục địa cổ xưa nhất có 4,5 tỷ tuổi.
94. Bao nhiêu lượng nước ngọt trên thế giới được lưu trữ trong băng?
Khoảng 70%. Để có được lượng nước này cần mưa rơi liên tục 60 năm trên toàn cầu và phải tìm cách đóng băng được tất cả lượng đó.
95. Hồ trên núi lớn nhất ở Bắc Mỹ?
Hồ Tahoe ở biên giới California-Nevada rộng 42.500 ha, chứa 0,1 tỷ m3 nước và sâu 488 m.
96. Có phải lúc nào cũng tồn tại các lục địa?
Không giống như chúng ta thấy bây giờ. Nhiều nhà khoa học cho rằng trái đất từng là một lục địa khổng lồ khô cằn, nước được đưa đến từ các sao chổi và đại dương hình thành. Sau đó tất cả đất đai trên thế giới tập hợp thành một siêu lục địa gọi là Pangaea. Nó bắt đầu phân tách từ 225 triệu năm trước đây, cuối cùng phân thành các mảng lục địa như chúng ta thấy ngày nay.
97. Bao nhiêu tro bụi núi lửa rơi xuống mỗi ngày?
Lấy một ví dụ. Trong đợt phun trào dữ dội kéo dài 9 giờ ở núi St. Helens ngày 18/5/1980, hơn 540 triệu tấn tro đã trút xuống bao phủ một diện tích rộng 56.980 km2. Đó là đợt phun trào núi lửa kinh hoàng nhất từng xảy ra tại Mỹ.
98. Fenspat là gì?
Đó là loại khoáng chất phổ biến nhất trong lớp vỏ cứng của trái đất.
99. Những điểm tận cùng của nước Mỹ?
Điểm xa nhất về phía đông là đảo Amatignak, Alaska. Điểm xa nhất về phía bắc là Point Barrow, Alaska. Điểm xa nhất về phía nam là mũi phía nam của đảo Hawaii. Điểm xa nhất về phía tây là Pochnoi Point ở Semisopochnoi, Alaska.
100. Nếu bạn được sắp xếp trái đất, mặt trăng và sao Hoả giống như búp bê Matryoshka, thì bạn sẽ xếp thế nào?
Sao Hoả sẽ lọt vào trong trái đất, và mặt trăng sẽ nằm gọn trong sao Hoả. Trái đất to gấp đôi sao Hoả và sao Hoả cũng gần như gấp đôi mặt trăng.
101. Trái đất sẽ luôn ở đó?
Các nhà thiên văn học đã biết rằng trong vài tỷ năm nữa, mặt trời sẽ phồng to đến nỗi "nuối chửng" trái đất. Nếu chúng ta vẫn còn ở đó thì chắc sẽ bị thiêu trụi và bốc hơi. Nếu có cơ hội thì chúng ta có thể "đẩy" trái đất sang một quỹ đạo khác xa hơn và yên bình hơn ( Hết. )
Saturday, February 4, 2012
bee gees
Bee Gees ban nhạc của mọi thời đại
Tags: Bee Gees, Saturday Night Fever, Maurice Gibb, Brothers Gibb, chữ cái đầu tiên, buổi hòa nhạc, tượng trưng cho, toàn thế giới, thành công, âm nhạc, ca khúc, anh em, của nhóm, ban nhạc, album
Bee Gees ban nhac cua moi thoi dai
Thành công của họ đã minh chứng cho câu danh ngôn "thiên tài chỉ 1% là bẩm sinh còn 99% là do lao động". Những nỗ lực của họ trong lĩnh vực âm nhạc đã trở thành những thành tựu lớn mà không phải bất cứ nhóm nhạc nào cũng đạt được.
Bee Gees là một nhóm nhạc gồm 3 anh em nhà Gibb: Barry, Robin và Maurice Gibb. Họ là một trong những ban nhạc thành công nhất mọi thời đại. Tên của nhóm quen thuộc với khán giả ở dạng viết tắt 2 chữ cái đầu tiên "B.G." tượng trưng cho Brothers Gibb.
Thành công trong suốt 40 năm hoạt động, không ít lần nhận được giải thưởng Grammy cao quý cho các nhạc phẩm thu âm của mình, nhóm là một hiện tượng văn hóa Pop trong những năm cuối thập kỉ 60 đầu thập kỉ 70.
Chưa bàn đến phong cách trình diễn, Bee Gees là một sự hòa hợp giữa 3 giọng ca đặc biệt không thể nhầm lẫn. Barry là người hát chính trong hầu hết các ca khúc bằng chất giọng cao hiếm có; Robin phụ trợ bằng giọng rung; Maurice hát các nốt trung. Nhóm chấm dứt sự nghiệp ca hát của mình sau khi Maurice qua đời vào tháng 1 năm 2003.
Ước tính có khoảng 180 triệu album và đĩa đơn của nhóm được bán ra. Con số đó rõ ràng đem về cho họ danh hiệu những nghệ sĩ có album bán chạy nhất. Năm 1997, người ta nhận định rằng: "Chỉ Elvis Presley, nhóm Beatles, Michael Jackson, Garth Brooks và Paul McCartney mới có thể đánh bại Bee Gees".
Anh em nhà Gibb sinh ra trên hòn đảo nhỏ xinh đẹp Anh quốc. Barry chào đời với tên khai sinh là Barry Alan Crompton Gibb vào ngày 1 tháng 9 năm 1946; anh em sinh đôi Robin và Maurice cất tiếng khóc đầu tiên vào ngày 22 tháng 12 năm 1949 với tên khai sinh là Robin Hugh Gibb và Maurice Ernest Gibb.
Những năm 1950, các chàng trai bắt đầu tập tành hát hò và lần đầu xuất hiện trước đông đảo công chúng tại một rạp chiếu bóng địa phương. Sau đó, họ ghi âm và nhận được những phản hồi tích cực. Chính tình cảm của khán giả đã khiến cho họ có thể xác định được điều mà họ muốn theo đuổi trong suốt cuộc đời.
Đến năm 1960, Bee Gees được xuất hiện trên một số show truyền hình. Trong những năm từ 1963 đến 1966, họ đạt được một số thành tựu đáng kể như cho ra đời một số đĩa đơn hit đứng đầu tại các bảng xếp hạng tại Úc.
Ảnh minh họa
Thập niên 60 tại Anh Quốc
Sự trở lại của họ gây được ấn tượng với album Bee Gees’1st, nhận được sự ủng hộ của cả giới chuyên môn lẫn công chúng. Nhiều người nhận định rằng Bee Gees là "tài năng âm nhạc xuất chúng của năm 1967". Nhạc phẩm tiếp theo của nhóm Bee Gees là Odessa phát hành vào năm 1969, một album nhạc Rock phong cách mới pha trộn với dàn nhạc. Trong thời gian này, thường xuyên xảy ra những bất đồng quan điểm giữa Barry và Robin. Kết quả cuối cùng là Robin phải rời nhóm, còn Barry trở thành trưởng nhóm.
Những năm đầu thập niên 70
3 anh em này tái hợp với nhau vào cuối năm 1970. Sự kiện này được phản ánh khá rõ nét trong nhiều ca khúc của họ những năm sau này. Tâm trạng chủ đạo là sự đau buồn và cô đơn trong thời gian tạm xa rời sân khấu âm nhạc. Năm 1972, ca khúc "Run to Me" đã đem họ trở về với top 10 nghệ sĩ xuất sắc trong vòng 3 năm.
Album tiếp theo, Children of the World, là sự kết hợp giữa Barry và Blue mà kết quả là một single mang tên "You Should Be Dancing" ra đời.
Ảnh minh họa
Cuối thập niên 70: Saturday Night Fever
Sau thành công của album trực tiếp Here at Last...The Bee Gees...Live, nhóm Bee Gees đồng ý hợp tác xây dựng Saturday Night Fever - ca khúc trong bộ phim cùng tên. Đây được coi là mốc quan trọng trong sự nghiệp âm nhạc của họ. Cả bộ phim lẫn ca khúc trong phim trở thành hiện tượng văn hóa không chỉ tại Mỹ mà còn trên toàn thế giới.
3 đĩa đơn của Bee Gees ("How Deep Is Your Love", "Stayin" Alive" và "Night Fever") đạt vị trí thứ 1 tại Mỹ và ở hầu hết các quốc gia khác trên thế giới, khai mào một kỉ nguyên mới. Trong 8 tháng mùa Giáng Sinh năm 1977, mấy anh em này viết tổng cộng 6 ca khúc đứng vị trí số 1 tại các bảng xếp hạng nước Mỹ trong suốt 25 tuần. Có động lực từ thành công của bộ phim, album liên tiếp phá vỡ nhiều kỉ lục, trở thành album bán chạy nhất trong lịch sử ngành thu âm đến thời điểm này. Saturday Night Fever bán được 40 triệu bản trên toàn thế giới.
Năm 1976, Bee Gees thu âm 3 bản cover lại các ca khúc của Beatles "Golden Slumbers/Carry that Weight", "She Came in Through the Bathroom Window" và "Sun King" cho bộ phim tài liệu âm nhạc có tên All This and World War II.
Thành công của nhóm lên cao như diều gặp gió nhưng cũng tụt dốc nhanh như không phanh vì mốt âm nhạc thể loại disco thời đó đang lên. Cuối năm 1979, disco nhanh chóng phổ biến khiến sự nghiệp âm nhạc của Bee Gees tại Mỹ sụp đổ nhưng trên trường quốc tế nhóm vẫn giữ được danh tiếng.
Những năm 1980 và 1990
Ảnh minh họa
Vào năm 1981, Bee Gees ra mắt album Living Eyes nhưng cũng không thể lấy lại vị thế tại thị trường Mỹ. Không được lọt vào danh sách top 40 tại nước này, album dần đi vào quên lãng. Năm 1983, nhóm cho ra đời bản nhạc trong phim Staying Alive, một phần trong Saturday Night Fever. Bản soundtrack này giành giải đĩa đơn bạch kim tại Mỹ.
Tiếp tục phát hành thêm album E.S.P. vào năm 1987, nhóm bán được hơn 3 triệu bản nhạc phẩm này. Sau khi hoàn thành xong album, nhóm thực hiện chuyến lưu diễn đầu tiên trên toàn thế giới trong vòng 10 năm trở về trước.
Bee Gees thực hiện chuyến lưu diễn vòng quanh Châu Âu sau khi hoàn thành xong High Civilization, một album có ca khúc hit "Secret Love". Trở về từ chuyến lưu diễn mệt mỏi, Barry Gibb bước vào trận chiến của những cơn đau lưng đến mức phải phẫu thuật. Còn Maurice thì nghiện rượu.
Năm 1993, họ cho ra đời album mang tên Size Isn"t Everything, trong đó có ca khúc hit nằm trong top 5 của Anh quốc có tiêu đề "For Whom the Bell Tolls". 4 năm sau, một album nữa ra đời, Still Waters, bán được hơn 4 triệu bản, đứng thứ 11 tại Mỹ.
Cuối năm 1997, Bee Gees trình diễn một buổi hòa nhạc trực tiếp tại Las Vegas có tên gọi one Night only. Đĩa CD của buổi hòa nhạc đó bán được hơn 5 triệu bản. Đây là động lực để nhóm thực hiện một chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới . Tour diễn thu hút 56.000 người đến tham dự tại sân vận động Wembley của London. Nhóm khép lại thập kỉ 90 với buổi hòa nhạc cuối cùng được biết đến dưới cái tên "BG2K" tổ chức vào ngày 31 tháng 12 năm 1999.
Những năm sau này
Ảnh minh họa
Năm 2001, họ cho ra đời một album mới mà không ai ngờ đó là album cuối cùng của nhóm. This Is Where I Came In đem lại cho từng thành viên trong nhóm cơ hội tự sáng tác. Maurice, người là đạo diễn âm nhạc cho Bee Gees trong những năm tháng nhóm còn hoạt động chung, đột ngột ra đi vào ngày 2 tháng 1 năm 2003. Mới đầu, hai anh em còn lại vẫn có ý định lấy tên "Bee Gees" để tưởng nhớ Maurice. Nhưng sau đó ít lâu, họ quyết định nghỉ hưu.
Mặc dù vẫn có tin cho rằng họ sẽ tổ chức một buổi hòa nhạc tưởng nhớ gồm cả hai anh em và một số khách mời nhưng đến nay vẫn chưa có thông tin chính thức xác nhận điều đó. Kể từ đó đến nay, Barry và Robin tiếp tục làm việc độc lập. Cả hai vẫn thu âm với những nghệ sĩ khác. Cuối năm 2004, Robin thực hiện chuyến lưu diễn solo vòng quanh nước Đức, Nga và Châu Á.
Thành công trong sáng tác
Bee Gees đạt được thành công ngoài sức tưởng tượng của giới chuyên môn cũng như chính các thành viên trong nhóm. Tổng cộng 180 triệu bản thu âm album cũng như đĩa đơn của nhóm được bán ra trên toàn cầu đem về cho Bee Gees những khoản lợi nhuận đáng kể. "How Deep Is Your Love" là bản nhạc thành công nhất của họ với hơn 400 phiên bản khác nhau đang tồn tại trong thế giới âm nhạc.
Những ca khúc của họ thường được các nghệ sĩ khác cover lại trong đó có Elvis Presley, Janis Joplin, Al Green, Eric Clapton, Lulu, Elton John, Tom Jones, và Nina Simone.
Theo Cẩm Anh (24H)
Tags: Bee Gees, Saturday Night Fever, Maurice Gibb, Brothers Gibb, chữ cái đầu tiên, buổi hòa nhạc, tượng trưng cho, toàn thế giới, thành công, âm nhạc, ca khúc, anh em, của nhóm, ban nhạc, album
Bee Gees ban nhac cua moi thoi dai
Thành công của họ đã minh chứng cho câu danh ngôn "thiên tài chỉ 1% là bẩm sinh còn 99% là do lao động". Những nỗ lực của họ trong lĩnh vực âm nhạc đã trở thành những thành tựu lớn mà không phải bất cứ nhóm nhạc nào cũng đạt được.
Bee Gees là một nhóm nhạc gồm 3 anh em nhà Gibb: Barry, Robin và Maurice Gibb. Họ là một trong những ban nhạc thành công nhất mọi thời đại. Tên của nhóm quen thuộc với khán giả ở dạng viết tắt 2 chữ cái đầu tiên "B.G." tượng trưng cho Brothers Gibb.
Thành công trong suốt 40 năm hoạt động, không ít lần nhận được giải thưởng Grammy cao quý cho các nhạc phẩm thu âm của mình, nhóm là một hiện tượng văn hóa Pop trong những năm cuối thập kỉ 60 đầu thập kỉ 70.
Chưa bàn đến phong cách trình diễn, Bee Gees là một sự hòa hợp giữa 3 giọng ca đặc biệt không thể nhầm lẫn. Barry là người hát chính trong hầu hết các ca khúc bằng chất giọng cao hiếm có; Robin phụ trợ bằng giọng rung; Maurice hát các nốt trung. Nhóm chấm dứt sự nghiệp ca hát của mình sau khi Maurice qua đời vào tháng 1 năm 2003.
Ước tính có khoảng 180 triệu album và đĩa đơn của nhóm được bán ra. Con số đó rõ ràng đem về cho họ danh hiệu những nghệ sĩ có album bán chạy nhất. Năm 1997, người ta nhận định rằng: "Chỉ Elvis Presley, nhóm Beatles, Michael Jackson, Garth Brooks và Paul McCartney mới có thể đánh bại Bee Gees".
Anh em nhà Gibb sinh ra trên hòn đảo nhỏ xinh đẹp Anh quốc. Barry chào đời với tên khai sinh là Barry Alan Crompton Gibb vào ngày 1 tháng 9 năm 1946; anh em sinh đôi Robin và Maurice cất tiếng khóc đầu tiên vào ngày 22 tháng 12 năm 1949 với tên khai sinh là Robin Hugh Gibb và Maurice Ernest Gibb.
Những năm 1950, các chàng trai bắt đầu tập tành hát hò và lần đầu xuất hiện trước đông đảo công chúng tại một rạp chiếu bóng địa phương. Sau đó, họ ghi âm và nhận được những phản hồi tích cực. Chính tình cảm của khán giả đã khiến cho họ có thể xác định được điều mà họ muốn theo đuổi trong suốt cuộc đời.
Đến năm 1960, Bee Gees được xuất hiện trên một số show truyền hình. Trong những năm từ 1963 đến 1966, họ đạt được một số thành tựu đáng kể như cho ra đời một số đĩa đơn hit đứng đầu tại các bảng xếp hạng tại Úc.
Ảnh minh họa
Thập niên 60 tại Anh Quốc
Sự trở lại của họ gây được ấn tượng với album Bee Gees’1st, nhận được sự ủng hộ của cả giới chuyên môn lẫn công chúng. Nhiều người nhận định rằng Bee Gees là "tài năng âm nhạc xuất chúng của năm 1967". Nhạc phẩm tiếp theo của nhóm Bee Gees là Odessa phát hành vào năm 1969, một album nhạc Rock phong cách mới pha trộn với dàn nhạc. Trong thời gian này, thường xuyên xảy ra những bất đồng quan điểm giữa Barry và Robin. Kết quả cuối cùng là Robin phải rời nhóm, còn Barry trở thành trưởng nhóm.
Những năm đầu thập niên 70
3 anh em này tái hợp với nhau vào cuối năm 1970. Sự kiện này được phản ánh khá rõ nét trong nhiều ca khúc của họ những năm sau này. Tâm trạng chủ đạo là sự đau buồn và cô đơn trong thời gian tạm xa rời sân khấu âm nhạc. Năm 1972, ca khúc "Run to Me" đã đem họ trở về với top 10 nghệ sĩ xuất sắc trong vòng 3 năm.
Album tiếp theo, Children of the World, là sự kết hợp giữa Barry và Blue mà kết quả là một single mang tên "You Should Be Dancing" ra đời.
Ảnh minh họa
Cuối thập niên 70: Saturday Night Fever
Sau thành công của album trực tiếp Here at Last...The Bee Gees...Live, nhóm Bee Gees đồng ý hợp tác xây dựng Saturday Night Fever - ca khúc trong bộ phim cùng tên. Đây được coi là mốc quan trọng trong sự nghiệp âm nhạc của họ. Cả bộ phim lẫn ca khúc trong phim trở thành hiện tượng văn hóa không chỉ tại Mỹ mà còn trên toàn thế giới.
3 đĩa đơn của Bee Gees ("How Deep Is Your Love", "Stayin" Alive" và "Night Fever") đạt vị trí thứ 1 tại Mỹ và ở hầu hết các quốc gia khác trên thế giới, khai mào một kỉ nguyên mới. Trong 8 tháng mùa Giáng Sinh năm 1977, mấy anh em này viết tổng cộng 6 ca khúc đứng vị trí số 1 tại các bảng xếp hạng nước Mỹ trong suốt 25 tuần. Có động lực từ thành công của bộ phim, album liên tiếp phá vỡ nhiều kỉ lục, trở thành album bán chạy nhất trong lịch sử ngành thu âm đến thời điểm này. Saturday Night Fever bán được 40 triệu bản trên toàn thế giới.
Năm 1976, Bee Gees thu âm 3 bản cover lại các ca khúc của Beatles "Golden Slumbers/Carry that Weight", "She Came in Through the Bathroom Window" và "Sun King" cho bộ phim tài liệu âm nhạc có tên All This and World War II.
Thành công của nhóm lên cao như diều gặp gió nhưng cũng tụt dốc nhanh như không phanh vì mốt âm nhạc thể loại disco thời đó đang lên. Cuối năm 1979, disco nhanh chóng phổ biến khiến sự nghiệp âm nhạc của Bee Gees tại Mỹ sụp đổ nhưng trên trường quốc tế nhóm vẫn giữ được danh tiếng.
Những năm 1980 và 1990
Ảnh minh họa
Vào năm 1981, Bee Gees ra mắt album Living Eyes nhưng cũng không thể lấy lại vị thế tại thị trường Mỹ. Không được lọt vào danh sách top 40 tại nước này, album dần đi vào quên lãng. Năm 1983, nhóm cho ra đời bản nhạc trong phim Staying Alive, một phần trong Saturday Night Fever. Bản soundtrack này giành giải đĩa đơn bạch kim tại Mỹ.
Tiếp tục phát hành thêm album E.S.P. vào năm 1987, nhóm bán được hơn 3 triệu bản nhạc phẩm này. Sau khi hoàn thành xong album, nhóm thực hiện chuyến lưu diễn đầu tiên trên toàn thế giới trong vòng 10 năm trở về trước.
Bee Gees thực hiện chuyến lưu diễn vòng quanh Châu Âu sau khi hoàn thành xong High Civilization, một album có ca khúc hit "Secret Love". Trở về từ chuyến lưu diễn mệt mỏi, Barry Gibb bước vào trận chiến của những cơn đau lưng đến mức phải phẫu thuật. Còn Maurice thì nghiện rượu.
Năm 1993, họ cho ra đời album mang tên Size Isn"t Everything, trong đó có ca khúc hit nằm trong top 5 của Anh quốc có tiêu đề "For Whom the Bell Tolls". 4 năm sau, một album nữa ra đời, Still Waters, bán được hơn 4 triệu bản, đứng thứ 11 tại Mỹ.
Cuối năm 1997, Bee Gees trình diễn một buổi hòa nhạc trực tiếp tại Las Vegas có tên gọi one Night only. Đĩa CD của buổi hòa nhạc đó bán được hơn 5 triệu bản. Đây là động lực để nhóm thực hiện một chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới . Tour diễn thu hút 56.000 người đến tham dự tại sân vận động Wembley của London. Nhóm khép lại thập kỉ 90 với buổi hòa nhạc cuối cùng được biết đến dưới cái tên "BG2K" tổ chức vào ngày 31 tháng 12 năm 1999.
Những năm sau này
Ảnh minh họa
Năm 2001, họ cho ra đời một album mới mà không ai ngờ đó là album cuối cùng của nhóm. This Is Where I Came In đem lại cho từng thành viên trong nhóm cơ hội tự sáng tác. Maurice, người là đạo diễn âm nhạc cho Bee Gees trong những năm tháng nhóm còn hoạt động chung, đột ngột ra đi vào ngày 2 tháng 1 năm 2003. Mới đầu, hai anh em còn lại vẫn có ý định lấy tên "Bee Gees" để tưởng nhớ Maurice. Nhưng sau đó ít lâu, họ quyết định nghỉ hưu.
Mặc dù vẫn có tin cho rằng họ sẽ tổ chức một buổi hòa nhạc tưởng nhớ gồm cả hai anh em và một số khách mời nhưng đến nay vẫn chưa có thông tin chính thức xác nhận điều đó. Kể từ đó đến nay, Barry và Robin tiếp tục làm việc độc lập. Cả hai vẫn thu âm với những nghệ sĩ khác. Cuối năm 2004, Robin thực hiện chuyến lưu diễn solo vòng quanh nước Đức, Nga và Châu Á.
Thành công trong sáng tác
Bee Gees đạt được thành công ngoài sức tưởng tượng của giới chuyên môn cũng như chính các thành viên trong nhóm. Tổng cộng 180 triệu bản thu âm album cũng như đĩa đơn của nhóm được bán ra trên toàn cầu đem về cho Bee Gees những khoản lợi nhuận đáng kể. "How Deep Is Your Love" là bản nhạc thành công nhất của họ với hơn 400 phiên bản khác nhau đang tồn tại trong thế giới âm nhạc.
Những ca khúc của họ thường được các nghệ sĩ khác cover lại trong đó có Elvis Presley, Janis Joplin, Al Green, Eric Clapton, Lulu, Elton John, Tom Jones, và Nina Simone.
Theo Cẩm Anh (24H)
Sunday, January 29, 2012
Thursday, December 22, 2011
Lịch sử cây thông Noel
Lm Giuse Nguyễn Hữu An
T5, 22/12/2011 - 11:45
Năm 354, Giáo hội Công giáo định lễ Giáng Sinh được cử hành ngày 25 tháng 12. Theo dòng thời thời gian, cây Noel có một lịch sử hình thành và đến nay nó đã trở thành thân quen mỗi dịp Giáng Sinh về.
Tại Tòa Thánh, cùng với cây Noel là một hang Belem lớn được làm ngay tại chân cột tháp Obelisco trước Đền Thánh Phêrô. Hang Belem này sẽ mở màn từ ngày 24 tháng 12 đến ngày 2 tháng 2. Đây là nét văn hóa tôn giáo đẹp đẽ đã có từ năm 1982, thời Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Thực ra truyền thống này đã khởi nguồn từ rất xa xưa khi thánh Phanxicô Assisi vào năm 1223 đã làm để diễn tả Mầu Nhiệm Belem. Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI đã theo truyền thống này và Ngài đã nhấn mạnh và xác nhận ý nghĩa giá trị của việc làm hang Belem và cây Noel không chỉ là diễn tả các yếu tố tinh thần tôn giáo mà còn cả các yếu tố văn hóa và nghệ thuật. Sau dịp Giáng Sinh, cây Noel sẽ được hạ xuống. Phần gỗ sẽ được trao cho các nghệ nhân để chế tác thành những sản phẩm văn hóa và nghệ thuật. Các sản phẩm này sẽ được bán và số tiền thu được Tòa Thánh sẽ đem giúp đỡ những người nghèo. (VietCatholic News).
IMGP8294mwTheo truyền thuyết, ngay từ 2000 đến 1200 trước Công nguyên đã có tục lệ trưng bày cây thông épicéa vào ngày 24 tháng 12, bởi vì người ta xem như ngày này là ngày tái sinh của Mặt trời. Trước đây, người Đông Âu (Celtes) dùng lịch theo chu kì Mặt trăng. Mỗi tháng của năm đều liên kết với một loại cây. Ngày 24 tháng 12 nhắm tiết Đông chí được đặt tên là tùng bách (épicéa). Để làm lễ cho ngày Đông chí, một cây xanh tượng trưng cho sự sống được trang trí bởi trái, hoa và lúa mì.
Năm 354, Giáo hội Công giáo định lễ Giáng Sinh được cử hành ngày 25 tháng 12. Theo dòng thời thời gian, cây Noel có một lịch sử hình thành và đến nay nó đã trở thành thân quen mỗi dịp Giáng Sinh về.
Người ta kể lại rằng: thánh đan sĩ Boniface (sinh năm 680) đã phá tục thờ cây cối. Ngài thuyết phục các đạo sĩ người Đức ở vùng Geismar là cây sồi không phải là cây thiêng. Ngài cho hạ một cây sồi. Khi đốn cây, sồi lăn xuống triệt hạ các cây mọc trên triền dốc, chỉ trừ cây thông. Thánh Boniface coi đó là điềm lạ, nên đã thuyết giảng rằng :''Kể từ nay, ta đặt tên cho cây thông là cây Chúa Hài Đồng''. Từ đó, người ta trồng cây thông trên khắp nước Đức để mừng lễ Giáng Sinh.
Đến thế kỷ thứ XI, cây Noel được trang hoàng bằng những trái pom đỏ, tượng trưng cho cây thiên đàng. Trên đó người ta treo trái pomme của bà Eva.
Từ thế kỷ thứ XII, cây sapin được xuất hiện tại Âu Châu, vùng Alsace. Người ta gọi "Cây Noel" lần đầu tiên tại Alsace vào năm 1521.
nancy-227883Thế kỷ thứ XIV, người ta trang trí cây thông bằng những trái pomme của bà Eva, kẹo và bánh. Cũng vào thời kì đó, một ngôi sao trên đỉnh cây tượng trưng cho ngôi sao Bethleem bắt đầu được phổ biến. Năm 1560 những người theo đạo Tin Lành phát trển truyền thống cây Noel.
Thế kỷ XII và XIII, các cây sapin chiếu sáng đầu tiên xuất hiện. Người ta dùng những vỏ trái hồ đào (noix) đựng đầy dầu, trên mặt để tim đèn, hay đèn sáp mềm, cột quanh cây thông.
Năm 1738, Marie Leszcynska, vợ vua Louis XV nước Pháp, đã trang hoàng một cây Noel trong lâu đài Versailles.
imagesTại Alsace-Lorraine, người ta thấy càng ngày càng nhiều cây sapin, nơi đầu tiên có truyền thống này.
Các nước Thuỵ Điển, Đan Mạch, Na Uy thường trang hoàng nhà cửa cây xanh nhân dịp năm mới để xua đuổi ma quỷ. Họ còn dựng cây cho chim trú ngụ trong mùa Giáng Sinh.
Năm 1837, bà công tước Orléans, Hélène de Mecklembourg, gốc người Đức cho người trang hoàng một cây sapin tại điện Tuileries.
Làm lễ Giáng Sinh quanh một cái cây, biểu tượng cho cây trên Thiên Đàng và đủ loại kẹo đã trở thành một truyền thống nhanh chóng bên Đức. Phải chờ đến gần một thế kỷ để truyền thống đó đến mọi gia đình người Pháp, nhất là sau chiến tranh 1870, có hàng ngàn gia đình người Alsace-Lorraine di cư qua Pháp. Chính nhờ thời kì đó mà cả nước Pháp thu nhập truyền thống này.
Đầu thế kỷ thứ 19, Cây Noel được nhập vào nước Anh từ từ và rất được tán thưởng, nhờ ông hoàng Albert, chồng của Nữ hoàng Victoria. Vào thời đó, người ta gọi cây Noel là cây Victorian Tree. Cây Victorian Tree được trang trí bằng đèn sáp, kẹo cùng các thứ bánh treo ở cành cây bằng dây giấy đủ màu.
sapin-de-noel-du-Rockefeller-Center_galleryphoto_paysage_stCây Noel được thịnh hành nhất vào thế kỉ thứ 19. Cây Noel cũng được những nước Áo, Thuỵ Sỹ, Phần Lan, Hoà Lan tán thưởng trong thời kì này. Hiện nay khắp nơi trên thế giới đều tổ chức lễ Giáng Sinh và chưng cây Noel.
Tương truyền về thánh Boniface kể rằng, một hôm trên đường hành hương, Ngài tình cờ bắt gặp một nhóm những kẻ ngoại đạo sùng bái đang tập trung xunh quanh một cây sồi lớn, dùng một đứa trẻ để tế thần. Để dừng buổi tế thần và cứu đứa trẻ, thánh nhân hạ gục cây sồi chỉ bằng một quả một quả đấm! Tại nơi đó đã mọc lên một cây thông nhỏ. Vị thánh nói với những kẻ ngoại đạo rằng cây thông nhỏ là cây của sự sống và nó tượng trưng cho cuộc sống vĩnh hằng của Chúa Cứu Thế.
Tương truyền, một lần Martin Luther, người sáng lập đạo Tin Lành dạo bước qua những cánh rừng vào một đêm Noel khoảng năm 1500. Trời quang và lạnh. Hàng triệu vì sao lấp lánh qua kẻ lá.Ông thực sự ngỡ ngàng trước một loài cây nhỏ, trên cành cây tuyết trắng phủ đầy, lung linh dưới ánh trăng.Cảnh vật hôm đó đã làm Luther thực sự rung động. Vì thế, khi trở về ông đã đặt một cây thông nhỏ trong nhà và kể lại câu chuyện này với lũ trẻ. Để tái tạo ánh lấp lánh của muôn ngàn ánh sao, ông đã treo nến trên cành cây thông và thắp sáng những ngọn nến ấy với lòng tôn kính ngày Chúa Giáng Sinh.
Hong-Kong-sapin-de-Noel_pics_809Một truyền thuyết khác lại kể rằng vào một đêm Noel đã rất lâu rồi, có một người tiều phu đang trên đường trở về nhà thì gặp một đứa trẻ bị lạc và lả đi mặc dù nghèo khó nhưng người tiều phu đã dành lại cho đứa trẻ chút thức ăn ít ỏi của mình và che chở cho nó yên giấc qua đêm. Buổi sáng khi thức dậy, ông nhìn thấy một cái cây đẹp lộng lẫy ngoài cửa. Hóa ra đứa trẻ đói khát tối hôm trước chính là Chúa cải trang. Chúa đã tạo ra cây để thưởng cho lòng nhân đức của người tiểu phu tốt bụng.
Nguồn gốc thực của cây Noel có thể gắn liền với những vở kịch thiên đường. Vào thời thượng cổ, những vở kịch đạo đức được biểu diễn khắp Châu Âu, thông qua các vở kịch ấy người ta có thể truyền bá các bài Kinh Thánh. Những vở kịch nói về nguồn gốc của loài người và sự dại dột của Adam và Eva tại vườn Eden, thường được diễn vào ngày 24 tháng 12 hằng năm. Cây táo là một đạo cụ trong vở kịch, nhưng vì các vở kịch được diễn vào mùa đông, các loài cây đều chưa kết trái nên các diễn viên phải treo các quả táo giả lên cành cây.
Phong tục cây Noel trở nên phổ biến ở Đức vào thế kỉ XVI. Người theo Kitô giáo mang cây xanh vào trong nhà và trang hoàng cho chúng trong dịp lễ Giáng Sinh.
Ở những vùng vắng bóng cây xanh, mọi người tạo ra các đồ vật hình chóp từ gỗ và trang trí cho nó các cành cây xanh và nến. Chẳng bao lâu sau, phong tục cây Noel trở nên phổ biến ở các nước Châu Âu.
Theo một truyền thống của nước Mỹ, một cuộc vui tổ chức xung quanh cây Giáng Sinhvào một đêm lạnh lẽo ở Trenton, New Jersey trong thời gian nội chiến đã làm thay đổi cục diện cuộc chiến.
Những người lính phe liên bang quá nhớ nhà, nhớ những ngọn nến được thắp sáng treo trên các cành cây Thông Giáng Sinh, đã bỏ nơi gác để ăn uống vui vẻ. Washington đã tấn công và đánh bại họ trong đêm đó.
PrImg_1142Vào giữa thế kỷ XIX, hoàng tử Albert chồng tương lai của nữ hoàng Victoria ra đời. Chính ông đã phổ biến rộng rãi cây Giáng Sinh vào nước Anh. Năm 1841, đôi vợ chồng hoàng gia này đã trang hoàng cây Giáng Sinh đầu tiên của nước Anh tại lâu đài Windon bằng nến cùng với rất nhiều laọi kẹo, hoa quả và bánh mì gừng. Khi cây Giáng Sinh trở thành thời thượng ở Anh thì những gia đình giàu có đã dùng tất cả những đồ vật quý giá để trang trí cho nó. Vào những năm 1850, theo sự mô tả của đại văn hào Charles Dickens thì cây Giáng Sinh ở Anh được trang hoàng bằng búp bê, những vật dụng nhỏ bé, các thiết bị âm nhạc, đồ trang sức, súng và gươm đồ chơi, hoa quả và bánh kẹo. Sau khi đã tồn tại ở Anh thì phong tục cây Noel cũng trở nên phổ biến trên khắp các vùng thuộc địa của đế chế Anh, tới cả những vùng đất mới như Canada.
Cây Noel đầu tiên được dân chúng ở Mỹ biết đến là vào những năm 1830. Khi hầu hết người dân Mỹ coi cây Giáng Sinh là một điều kì cục thì những người Đức nhập cư ở Pennsylvania thường mang cây Giáng Sinh vào các buổi biểu diễn nhăm tăng thêm tiền quyên góp cho nhà thờ. Năm 1851, một mục sư người Đức đặt một cây Giáng Sinh trước cửa nhà thờ của ông làm cho những người dân xứ đạo ở đó đã bị xúc phạm và buộc ông phải hạ nó xuống. Họ cảm thấy đó là một phong tục ngoại đạo.
Tuy nhiên, vào những năm 1890, nhiều đồ trang trí bắt đầu được nhập từ Đức vào và từ đó tục lệ về cây Giáng Sinh trở nên phổ biến ở Canada và Mỹ. Có một sự khác biệt lớn giữa cây Giáng Sinh của Châu Âu và Bắc Mỹ. Cây của Châu Âu nhỏ, hiếm khi cao hơn 1,5 mét chỉ khoảng 4 -5 feet trong khi cây của Bắc Mỹ cao tới trần nhà.
Năm 1900, cứ 5 gia đình ở Bắc Mỹ thì có một gia đình có cây Giáng Sinh, và hai mươi năm sau phong tục này trở nên khá phổ biến. Vào những năm đầu thế kỉ XX, người dân Bắc Mỹ thường trang trí cây thông bằng đồ trang trí do chính tay họ làm ra. Đồ trang trí truyền thống của người Canada và người Mỹ gốc Đức gồm có quả hạnh nhân, quả hạch, bánh hạnh nhân với nhiều hình dạng thú vị khác nhau. Những hạt bắp chiên nhiều màu sắc, được trang trí cùng những quả phúc bồn tử và các chuỗi hạt. Cũng vào thời gian này bắt đầu xuất hiện những dây đèn trang trí trên cây Giáng Sinh, nhờ nó cây thông rực rỡ hơn nhiều lần. Ánh sáng trang trí bằng đèn điện kéo dài hơn và an toàn hơn rất nhiều so với ánh sáng toả ra từ những ngọn nến.
grandis-1Mỗi năm khi ngày Giáng Sinh tới, một cây Noel lộng lẫy được đặt tại quảng trường trung tâm Bentall thành phố Vancouver, phía nam British Columbia. Và dân chúng tập trung xung quanh cây Noel đầu tiên vừa được dựng lên và chưa được trang hoàng lộng lẫy kia. Rồi ở cuối thành phố cây thông sáng bỗng bừng lên với muôn vàn ánh đèn đầy màu sắc, cùng lúc đó đội hợp xướng nhà thờ ca vang bài hát mừng lễ Giáng Sinh. Tại ngọn đồi Parliament ở Ottawa, một cây Noel rực rỡ ánh đèn màu được đặt cạnh ngọn đuốc thế kỷ của Cananda cùng với âm vị ngọt ngào của giai điệu Giáng Sinh tuyệt vời từ tháp hoà bình Carillon vang đến (theo thánh nhạc ngày nay số 52).
Trong giờ đọc kinh truyền tin Chúa nhật 19.12.2004, Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đã diễn giải ý nghĩa cây Noel: ''Ta thường trưng bày bên cạnh máng cỏ một cây thông Giáng sinh, vốn là truyền thống tốt đẹp lâu đời nhằm ngợi ca cuộc sống. Vào mùa đông rét mướt, cây thông vẫn xanh tươi để nói rằng cuộc sống không bao giờ bị hủy diệt. Các quà tặng Giáng sinh được bày dưới gốc cây. Biểu tượng này muốn nói rằng cây Giáng sinh là cây nhân sinh mang hình ảnh Đức Kitô. Đây chính là món quà Thiên Chúa ban cho nhân trần. Thông điệp về cây thông Giáng sinh còn mang ý nghĩa cuộc sống xanh tươi như tặng vật của tình bạn và lòng yêu thương, là sự tương trợ huynh đệ và sự tha thứ, là sự chia sẻ và lắng nghe tha nhân".
Giáng Sinh đã trở thành một đại lễ của nhân loại. Dù tin hay không tin vào Chúa Giêsu, mọi người đều hân hoan đón đợi và vui tươi mừng lễ.
sapin-noel-strasbourgGiáng Sinh có lẽ là ngày hội lớn duy nhất trên trái đất được đón mừng bởi mọi quốc gia, mọi sắc tộc, mọi tầng lớp xã hội. Từ núi cao, trong rừng sâu, xuống đồng bằng, vào thị tứ giầu sang....Qua đủ mọi hình thức: Hang đá máng cỏ, cây Noel, nhóm vài cây củi trên rừng, thắp ngọn nến đơn sơ trong ngôi nhà thờ bé nhỏ nghèo nàn vùng quê hẻo lánh, hay trăm ngàn ánh đèn muôn mầu rực rỡ chốn đô hội văn minh tráng lệ, khắp nơi đón mừng và cùng hát lên tâm tình:
'' Vinh danh Thiên Chúa trên trời.
Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương'' (Lc 2,14).
Giáng sinh đang về trên khắp mọi nơi trần thế. Hang Đá Máng Cỏ, Cây Noel đã trở nên một nét đẹp của "lễ hội văn hóa Giáng Sinh". Bình an và niềm vui là quà tặng của Giáng sinh. Cây Noel lộng lẫy ánh đèn nhấp nháy sáng lên tia hy vọng như mời gọi chúng ta hãy tỏa sáng tình yêu của Thiên Chúa trong cuộc sống hàng ngày.
Nguồn:
tonggiaophanhanoi
T5, 22/12/2011 - 11:45
Năm 354, Giáo hội Công giáo định lễ Giáng Sinh được cử hành ngày 25 tháng 12. Theo dòng thời thời gian, cây Noel có một lịch sử hình thành và đến nay nó đã trở thành thân quen mỗi dịp Giáng Sinh về.
Tại Tòa Thánh, cùng với cây Noel là một hang Belem lớn được làm ngay tại chân cột tháp Obelisco trước Đền Thánh Phêrô. Hang Belem này sẽ mở màn từ ngày 24 tháng 12 đến ngày 2 tháng 2. Đây là nét văn hóa tôn giáo đẹp đẽ đã có từ năm 1982, thời Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Thực ra truyền thống này đã khởi nguồn từ rất xa xưa khi thánh Phanxicô Assisi vào năm 1223 đã làm để diễn tả Mầu Nhiệm Belem. Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI đã theo truyền thống này và Ngài đã nhấn mạnh và xác nhận ý nghĩa giá trị của việc làm hang Belem và cây Noel không chỉ là diễn tả các yếu tố tinh thần tôn giáo mà còn cả các yếu tố văn hóa và nghệ thuật. Sau dịp Giáng Sinh, cây Noel sẽ được hạ xuống. Phần gỗ sẽ được trao cho các nghệ nhân để chế tác thành những sản phẩm văn hóa và nghệ thuật. Các sản phẩm này sẽ được bán và số tiền thu được Tòa Thánh sẽ đem giúp đỡ những người nghèo. (VietCatholic News).
IMGP8294mwTheo truyền thuyết, ngay từ 2000 đến 1200 trước Công nguyên đã có tục lệ trưng bày cây thông épicéa vào ngày 24 tháng 12, bởi vì người ta xem như ngày này là ngày tái sinh của Mặt trời. Trước đây, người Đông Âu (Celtes) dùng lịch theo chu kì Mặt trăng. Mỗi tháng của năm đều liên kết với một loại cây. Ngày 24 tháng 12 nhắm tiết Đông chí được đặt tên là tùng bách (épicéa). Để làm lễ cho ngày Đông chí, một cây xanh tượng trưng cho sự sống được trang trí bởi trái, hoa và lúa mì.
Năm 354, Giáo hội Công giáo định lễ Giáng Sinh được cử hành ngày 25 tháng 12. Theo dòng thời thời gian, cây Noel có một lịch sử hình thành và đến nay nó đã trở thành thân quen mỗi dịp Giáng Sinh về.
Người ta kể lại rằng: thánh đan sĩ Boniface (sinh năm 680) đã phá tục thờ cây cối. Ngài thuyết phục các đạo sĩ người Đức ở vùng Geismar là cây sồi không phải là cây thiêng. Ngài cho hạ một cây sồi. Khi đốn cây, sồi lăn xuống triệt hạ các cây mọc trên triền dốc, chỉ trừ cây thông. Thánh Boniface coi đó là điềm lạ, nên đã thuyết giảng rằng :''Kể từ nay, ta đặt tên cho cây thông là cây Chúa Hài Đồng''. Từ đó, người ta trồng cây thông trên khắp nước Đức để mừng lễ Giáng Sinh.
Đến thế kỷ thứ XI, cây Noel được trang hoàng bằng những trái pom đỏ, tượng trưng cho cây thiên đàng. Trên đó người ta treo trái pomme của bà Eva.
Từ thế kỷ thứ XII, cây sapin được xuất hiện tại Âu Châu, vùng Alsace. Người ta gọi "Cây Noel" lần đầu tiên tại Alsace vào năm 1521.
nancy-227883Thế kỷ thứ XIV, người ta trang trí cây thông bằng những trái pomme của bà Eva, kẹo và bánh. Cũng vào thời kì đó, một ngôi sao trên đỉnh cây tượng trưng cho ngôi sao Bethleem bắt đầu được phổ biến. Năm 1560 những người theo đạo Tin Lành phát trển truyền thống cây Noel.
Thế kỷ XII và XIII, các cây sapin chiếu sáng đầu tiên xuất hiện. Người ta dùng những vỏ trái hồ đào (noix) đựng đầy dầu, trên mặt để tim đèn, hay đèn sáp mềm, cột quanh cây thông.
Năm 1738, Marie Leszcynska, vợ vua Louis XV nước Pháp, đã trang hoàng một cây Noel trong lâu đài Versailles.
imagesTại Alsace-Lorraine, người ta thấy càng ngày càng nhiều cây sapin, nơi đầu tiên có truyền thống này.
Các nước Thuỵ Điển, Đan Mạch, Na Uy thường trang hoàng nhà cửa cây xanh nhân dịp năm mới để xua đuổi ma quỷ. Họ còn dựng cây cho chim trú ngụ trong mùa Giáng Sinh.
Năm 1837, bà công tước Orléans, Hélène de Mecklembourg, gốc người Đức cho người trang hoàng một cây sapin tại điện Tuileries.
Làm lễ Giáng Sinh quanh một cái cây, biểu tượng cho cây trên Thiên Đàng và đủ loại kẹo đã trở thành một truyền thống nhanh chóng bên Đức. Phải chờ đến gần một thế kỷ để truyền thống đó đến mọi gia đình người Pháp, nhất là sau chiến tranh 1870, có hàng ngàn gia đình người Alsace-Lorraine di cư qua Pháp. Chính nhờ thời kì đó mà cả nước Pháp thu nhập truyền thống này.
Đầu thế kỷ thứ 19, Cây Noel được nhập vào nước Anh từ từ và rất được tán thưởng, nhờ ông hoàng Albert, chồng của Nữ hoàng Victoria. Vào thời đó, người ta gọi cây Noel là cây Victorian Tree. Cây Victorian Tree được trang trí bằng đèn sáp, kẹo cùng các thứ bánh treo ở cành cây bằng dây giấy đủ màu.
sapin-de-noel-du-Rockefeller-Center_galleryphoto_paysage_stCây Noel được thịnh hành nhất vào thế kỉ thứ 19. Cây Noel cũng được những nước Áo, Thuỵ Sỹ, Phần Lan, Hoà Lan tán thưởng trong thời kì này. Hiện nay khắp nơi trên thế giới đều tổ chức lễ Giáng Sinh và chưng cây Noel.
Tương truyền về thánh Boniface kể rằng, một hôm trên đường hành hương, Ngài tình cờ bắt gặp một nhóm những kẻ ngoại đạo sùng bái đang tập trung xunh quanh một cây sồi lớn, dùng một đứa trẻ để tế thần. Để dừng buổi tế thần và cứu đứa trẻ, thánh nhân hạ gục cây sồi chỉ bằng một quả một quả đấm! Tại nơi đó đã mọc lên một cây thông nhỏ. Vị thánh nói với những kẻ ngoại đạo rằng cây thông nhỏ là cây của sự sống và nó tượng trưng cho cuộc sống vĩnh hằng của Chúa Cứu Thế.
Tương truyền, một lần Martin Luther, người sáng lập đạo Tin Lành dạo bước qua những cánh rừng vào một đêm Noel khoảng năm 1500. Trời quang và lạnh. Hàng triệu vì sao lấp lánh qua kẻ lá.Ông thực sự ngỡ ngàng trước một loài cây nhỏ, trên cành cây tuyết trắng phủ đầy, lung linh dưới ánh trăng.Cảnh vật hôm đó đã làm Luther thực sự rung động. Vì thế, khi trở về ông đã đặt một cây thông nhỏ trong nhà và kể lại câu chuyện này với lũ trẻ. Để tái tạo ánh lấp lánh của muôn ngàn ánh sao, ông đã treo nến trên cành cây thông và thắp sáng những ngọn nến ấy với lòng tôn kính ngày Chúa Giáng Sinh.
Hong-Kong-sapin-de-Noel_pics_809Một truyền thuyết khác lại kể rằng vào một đêm Noel đã rất lâu rồi, có một người tiều phu đang trên đường trở về nhà thì gặp một đứa trẻ bị lạc và lả đi mặc dù nghèo khó nhưng người tiều phu đã dành lại cho đứa trẻ chút thức ăn ít ỏi của mình và che chở cho nó yên giấc qua đêm. Buổi sáng khi thức dậy, ông nhìn thấy một cái cây đẹp lộng lẫy ngoài cửa. Hóa ra đứa trẻ đói khát tối hôm trước chính là Chúa cải trang. Chúa đã tạo ra cây để thưởng cho lòng nhân đức của người tiểu phu tốt bụng.
Nguồn gốc thực của cây Noel có thể gắn liền với những vở kịch thiên đường. Vào thời thượng cổ, những vở kịch đạo đức được biểu diễn khắp Châu Âu, thông qua các vở kịch ấy người ta có thể truyền bá các bài Kinh Thánh. Những vở kịch nói về nguồn gốc của loài người và sự dại dột của Adam và Eva tại vườn Eden, thường được diễn vào ngày 24 tháng 12 hằng năm. Cây táo là một đạo cụ trong vở kịch, nhưng vì các vở kịch được diễn vào mùa đông, các loài cây đều chưa kết trái nên các diễn viên phải treo các quả táo giả lên cành cây.
Phong tục cây Noel trở nên phổ biến ở Đức vào thế kỉ XVI. Người theo Kitô giáo mang cây xanh vào trong nhà và trang hoàng cho chúng trong dịp lễ Giáng Sinh.
Ở những vùng vắng bóng cây xanh, mọi người tạo ra các đồ vật hình chóp từ gỗ và trang trí cho nó các cành cây xanh và nến. Chẳng bao lâu sau, phong tục cây Noel trở nên phổ biến ở các nước Châu Âu.
Theo một truyền thống của nước Mỹ, một cuộc vui tổ chức xung quanh cây Giáng Sinhvào một đêm lạnh lẽo ở Trenton, New Jersey trong thời gian nội chiến đã làm thay đổi cục diện cuộc chiến.
Những người lính phe liên bang quá nhớ nhà, nhớ những ngọn nến được thắp sáng treo trên các cành cây Thông Giáng Sinh, đã bỏ nơi gác để ăn uống vui vẻ. Washington đã tấn công và đánh bại họ trong đêm đó.
PrImg_1142Vào giữa thế kỷ XIX, hoàng tử Albert chồng tương lai của nữ hoàng Victoria ra đời. Chính ông đã phổ biến rộng rãi cây Giáng Sinh vào nước Anh. Năm 1841, đôi vợ chồng hoàng gia này đã trang hoàng cây Giáng Sinh đầu tiên của nước Anh tại lâu đài Windon bằng nến cùng với rất nhiều laọi kẹo, hoa quả và bánh mì gừng. Khi cây Giáng Sinh trở thành thời thượng ở Anh thì những gia đình giàu có đã dùng tất cả những đồ vật quý giá để trang trí cho nó. Vào những năm 1850, theo sự mô tả của đại văn hào Charles Dickens thì cây Giáng Sinh ở Anh được trang hoàng bằng búp bê, những vật dụng nhỏ bé, các thiết bị âm nhạc, đồ trang sức, súng và gươm đồ chơi, hoa quả và bánh kẹo. Sau khi đã tồn tại ở Anh thì phong tục cây Noel cũng trở nên phổ biến trên khắp các vùng thuộc địa của đế chế Anh, tới cả những vùng đất mới như Canada.
Cây Noel đầu tiên được dân chúng ở Mỹ biết đến là vào những năm 1830. Khi hầu hết người dân Mỹ coi cây Giáng Sinh là một điều kì cục thì những người Đức nhập cư ở Pennsylvania thường mang cây Giáng Sinh vào các buổi biểu diễn nhăm tăng thêm tiền quyên góp cho nhà thờ. Năm 1851, một mục sư người Đức đặt một cây Giáng Sinh trước cửa nhà thờ của ông làm cho những người dân xứ đạo ở đó đã bị xúc phạm và buộc ông phải hạ nó xuống. Họ cảm thấy đó là một phong tục ngoại đạo.
Tuy nhiên, vào những năm 1890, nhiều đồ trang trí bắt đầu được nhập từ Đức vào và từ đó tục lệ về cây Giáng Sinh trở nên phổ biến ở Canada và Mỹ. Có một sự khác biệt lớn giữa cây Giáng Sinh của Châu Âu và Bắc Mỹ. Cây của Châu Âu nhỏ, hiếm khi cao hơn 1,5 mét chỉ khoảng 4 -5 feet trong khi cây của Bắc Mỹ cao tới trần nhà.
Năm 1900, cứ 5 gia đình ở Bắc Mỹ thì có một gia đình có cây Giáng Sinh, và hai mươi năm sau phong tục này trở nên khá phổ biến. Vào những năm đầu thế kỉ XX, người dân Bắc Mỹ thường trang trí cây thông bằng đồ trang trí do chính tay họ làm ra. Đồ trang trí truyền thống của người Canada và người Mỹ gốc Đức gồm có quả hạnh nhân, quả hạch, bánh hạnh nhân với nhiều hình dạng thú vị khác nhau. Những hạt bắp chiên nhiều màu sắc, được trang trí cùng những quả phúc bồn tử và các chuỗi hạt. Cũng vào thời gian này bắt đầu xuất hiện những dây đèn trang trí trên cây Giáng Sinh, nhờ nó cây thông rực rỡ hơn nhiều lần. Ánh sáng trang trí bằng đèn điện kéo dài hơn và an toàn hơn rất nhiều so với ánh sáng toả ra từ những ngọn nến.
grandis-1Mỗi năm khi ngày Giáng Sinh tới, một cây Noel lộng lẫy được đặt tại quảng trường trung tâm Bentall thành phố Vancouver, phía nam British Columbia. Và dân chúng tập trung xung quanh cây Noel đầu tiên vừa được dựng lên và chưa được trang hoàng lộng lẫy kia. Rồi ở cuối thành phố cây thông sáng bỗng bừng lên với muôn vàn ánh đèn đầy màu sắc, cùng lúc đó đội hợp xướng nhà thờ ca vang bài hát mừng lễ Giáng Sinh. Tại ngọn đồi Parliament ở Ottawa, một cây Noel rực rỡ ánh đèn màu được đặt cạnh ngọn đuốc thế kỷ của Cananda cùng với âm vị ngọt ngào của giai điệu Giáng Sinh tuyệt vời từ tháp hoà bình Carillon vang đến (theo thánh nhạc ngày nay số 52).
Trong giờ đọc kinh truyền tin Chúa nhật 19.12.2004, Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đã diễn giải ý nghĩa cây Noel: ''Ta thường trưng bày bên cạnh máng cỏ một cây thông Giáng sinh, vốn là truyền thống tốt đẹp lâu đời nhằm ngợi ca cuộc sống. Vào mùa đông rét mướt, cây thông vẫn xanh tươi để nói rằng cuộc sống không bao giờ bị hủy diệt. Các quà tặng Giáng sinh được bày dưới gốc cây. Biểu tượng này muốn nói rằng cây Giáng sinh là cây nhân sinh mang hình ảnh Đức Kitô. Đây chính là món quà Thiên Chúa ban cho nhân trần. Thông điệp về cây thông Giáng sinh còn mang ý nghĩa cuộc sống xanh tươi như tặng vật của tình bạn và lòng yêu thương, là sự tương trợ huynh đệ và sự tha thứ, là sự chia sẻ và lắng nghe tha nhân".
Giáng Sinh đã trở thành một đại lễ của nhân loại. Dù tin hay không tin vào Chúa Giêsu, mọi người đều hân hoan đón đợi và vui tươi mừng lễ.
sapin-noel-strasbourgGiáng Sinh có lẽ là ngày hội lớn duy nhất trên trái đất được đón mừng bởi mọi quốc gia, mọi sắc tộc, mọi tầng lớp xã hội. Từ núi cao, trong rừng sâu, xuống đồng bằng, vào thị tứ giầu sang....Qua đủ mọi hình thức: Hang đá máng cỏ, cây Noel, nhóm vài cây củi trên rừng, thắp ngọn nến đơn sơ trong ngôi nhà thờ bé nhỏ nghèo nàn vùng quê hẻo lánh, hay trăm ngàn ánh đèn muôn mầu rực rỡ chốn đô hội văn minh tráng lệ, khắp nơi đón mừng và cùng hát lên tâm tình:
'' Vinh danh Thiên Chúa trên trời.
Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương'' (Lc 2,14).
Giáng sinh đang về trên khắp mọi nơi trần thế. Hang Đá Máng Cỏ, Cây Noel đã trở nên một nét đẹp của "lễ hội văn hóa Giáng Sinh". Bình an và niềm vui là quà tặng của Giáng sinh. Cây Noel lộng lẫy ánh đèn nhấp nháy sáng lên tia hy vọng như mời gọi chúng ta hãy tỏa sáng tình yêu của Thiên Chúa trong cuộc sống hàng ngày.
Nguồn:
tonggiaophanhanoi
Subscribe to:
Comments (Atom)





